Blog

  • Siêu âm đo độ mờ da gáy có ý nghĩa như thế nào

    Siêu âm đo độ mờ da gáy có ý nghĩa như thế nào

    Siêu âm đo độ mờ da gáy là một xét nghiệm quan trọng trong tam cá nguyệt đầu tiên, giúp đánh giá nguy cơ mắc các dị tật bẩm sinh, đặc biệt là hội chứng Down ở thai nhi. Bằng cách đo độ dày của lớp dịch dưới da vùng gáy thai nhi qua siêu âm, bác sĩ có thể phát hiện sớm những dấu hiệu bất thường về nhiễm sắc thể. Kết quả siêu âm này không phải là chẩn đoán cuối cùng, nhưng nếu độ mờ da gáy vượt ngưỡng bình thường, mẹ bầu có thể được chỉ định thêm các xét nghiệm chuyên sâu như NIPT hoặc chọc ối để có kết quả chính xác hơn. Thực hiện siêu âm đúng thời điểm (từ tuần 11 đến tuần 14 của thai kỳ) và tại cơ sở y tế uy tín giúp đảm bảo tính chính xác và an toàn cho cả mẹ và bé.

    Siêu âm đo độ mờ da gáy là gì?

    Độ mờ da gáy là một đặc điểm hình thể trên siêu âm do  sự tích tụ dịch  dưới lớp da phía sau cổ thai nhi trong tam cá nguyệt 1 của thai kỳ. Thuật ngữ “translucency” ở đây, dù  có hay không có vách và có thể chỉ khu trú ở vùng cổ hay bao phủ toàn bộ cơ thể. Siêu âm độ mờ da gáy là kỹ thuật siêu âm được thực hiện ở tuần thứ 11- 13 tuần 6 ngày của thai nhi nhằm đo bề dày lớp da gáy phía sau cổ của thai nhi.

    Siêu âm độ mờ da gáy để làm gì?

    Chắc hẳn câu hỏi “siêu âm độ mờ da gáy làm gì”  hay “tại sao phải làm siêu âm độ mờ da gáy” là câu hỏi được hầu hết các sản phụ thắc mắc khi mang thai, ngày xưa khi không có máy siêu âm không ai làm siêu âm độ mờ da gáy cũng có sao đâu. Thực vậy siêu âm độ mờ da gáy có tác dụng giúp tầm soát phát hiện sớm các dị tật bẩm sinh của thai nhi như các đột biến bất thường nhiễm sắc thể, các bất thường hình thái lớn của thai nhi, bạn có biết khi kết hợp siêu âm đo độ mờ da gáy và xét nghiệm máu gọi là xét nghiệm double test có khả năng phát hiện dị tật bẩm sinh thai nhi lên tới xấp xỉ 90%. Do đó mục đích của siêu âm độ mờ da gáy là tầm soát dị tật, giúp phát hiện và xử lý sớm khi có bất thường xẩy ra.

    Không siêu âm độ mờ da gáy có sao không??

    Đây cũng là câu hỏi nhiều người đặt ra, thực ra không siêu âm đo độ mờ da gáy thì cũng không ảnh hưởng gì tới thai nhi cả, vấn đề chỉ là bạn không biết được tình trạng cụa thể của em bé ra sao thôi. Do đó nếu có điều kiện và thời gian, tốt hơn hết là bạn nên tiến hành siêu âm độ mờ da gáy nhé các bạn.

    Khi siêu âm độ mờ da gáy có cần nhịn tiểu hay nhin ăn hay không?

    Câu trả lời là không cần nhé các bạn, khi siêu âm độ mờ da gáy tốt nhất bạn nên đi tiểu hoàn toàn để làm cho bàng quang hết nước tiểu, khi đó túi thai sẽ nằm ở sát gần thành bụng hơn do đó có thể tiếp cận túi thai một cách dễ dàng. Đồng thời khi đi tiểu cũng làm cho sản phụ thấy thoải mái hơn thì thực hiện kỹ thuật siêu âm. Khi đi siêu âm tốt nhất các mẹ bầu nên ăn uống đủ chất dinh dưỡng, tránh tình trạng nhịn đói, khi phải ngồi chờ lâu dễ dẫn tới tình trạng tụt đường huyết sẽ không tốt cho sức khỏe của bà mẹ và em bé.

    Siêu âm độ mờ da gáy hết bao nhiêu tiền?

    Siêu âm độ mờ da gáy giá bao nhiêu luôn là câu hỏi thắc mắc của mọi người vì liên quan trực tiếp tới túi tiền của mọi người phải không nào, tuy nhiên bạn cũng không phải quá lo lắng vì giá thành của dịch vụ siêu âm không quá cao, hầu hết mọi người đều có thể chi trả được, giá siêu âm độ mờ da gáy tùy vào giá của các bệnh viên, phòng khám khác nhau, bình thường dao động từ 200-300k thôi nhé.

    Các câu hỏi thường gặp về các mốc thời gian siêu âm:

    Để trả lời cho các câu hỏi trên các bạn nên căn cứ vào số tuần tuổi của thai nhi. nếu siêu âm quá sớm thì sẽ không phát hiện được bất thường, còn nếu siêu âm quá mộn thì kết quả sẽ không chính xác, ảnh hưởng tới kết quả chẩn đoán trên siêu âm. Theo khuyến cáo của hiệp hội siêu âm thai nhi thế giới, mốc thời gian nên thực hiện siêu âm độ mờ da gáy là từ 11 tuần tới 13 tuần 6 ngày nhé các bạn, ngoài mốc thời gian trên thì không nên thực hiện siêu âm đo độ mờ da gáy.

    Tuổi thai tốt nhất để đo độ mờ da gáy thai nhi là từ 11 tuần đến 13 tuần 6 ngày. Chiều dài đầu mông (CRL) nhỏ nhất là 45 mm và lớn nhất là 84 mm

    Không nên siêu âm khi thai nhỏ hơn 11 tuần vì:

    • Không phát hiện đượcBiến chứng mất chi do CVS
    • Không khảo sát được vòm sọ thai nhi
    • Không Khảo sát 4 buồng tim thai
    • Không phát hiện và phân biệt được Thoát vị rốn bẩm sinh ở thai

    Không nên siêu âm khi tuổi thai vượt quá 13 tuần 6 ngày vì: 

    • Nếu có phát hiện được dị tật sớm cũng khó chấm dứt thai kỳ vì tuổi thai lớn
    • Tần suất bất thường tụ dịch sau gáy giảm
    • Tỷ lệ đo thành công 10-13 tuần 98-100%, đến 14 tuần còn 90% do thai duỗi

    Siêu âm độ mờ da gáy có chính xác không?

    Siêu âm độ mờ da gáy là một kỹ thuật khảo sát cận lâm sàng nên có độ nhạy , độ đặc hiệu , độ chính xác của kỹ thuật siêu âm phụ thuốc vào rất nhiều yếu tố như chất lượng máy siêu âm có tốt hay không, nếu máy siêu âm có độ phân giải tốt thì sẽ cho kết quả chính xác hơn những máy có độ phân giả kém hơn, thông thường có thể đo độ mờ da gáy bằng máy siêu âm 2D, 3D, 4D, 5D, tuy nhiên cũng chỉ cần dúng máy siêu âm từ 2D là đủ.

    Tư thế của thai nhi cũng là một yếu tố rất quan trọng, nếu em bé nằm ngửa sẽ cho kết quả chính xác hơn khi thai nhin nằm nghiêng hoặc nằm sấp

    Độ dày thành bụng của mẹ bầu cũng rất quan trọng, nếu thành bụng mẹ mỏng sẽ dễ thực hiện hơn khi thành bụng dày

    Đặc biệt trình độ kỹ thuật của bác sỹ thực hiện kỹ thuật siêu âm rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn tới kết quả siêu âm. Theo khuyến cáo của hiệp hội siêu âm bào thai thế giới (FMF) thì chỉ những bác sỹ có chứng chỉ được cấp bới tổ chức này mới có đủ khả năng để thực hiện siêu âm độ mờ da gáy. Do đó khi bạn khi bạn chọn nơi để thực hiện xét nghiệm này, hãy tìm cho mình một phòng khám hay bệnh viên uy tín, máy siêu âm rõ nét, bác sỹ có trình độ tay nghề và kinh nghiệm nhé các bạn.

    Siêu âm độ mờ da gáy được thực hiện như thế nào?

    Thực hiện đo độ mờ da gáy được thực hiện bới bác sỹ siêu âm có kinh nghiệm, mẹ bầu sẽ nằm trên bàn siêu âm, bác sỹ sẽ giải thích và tiến hành siêu âm cho em bé một vòng tổng quát, sau đó sẽ lựa khi tư thế thai nằm ngửa để đo các thông số như chiều dài dầu mông thai nhi (CRL), bề dày lớp da gáy phía sau cổ của em bé, nhịp tim thai, các bước thực hiện cụ thể như sau:   Hình ảnh đo chiều dài đầu mông CRL

    Hình ảnh đo chiều dài đầu mông CRL

    Độ phóng đại của hình ảnh sao cho chỉ có phần đầu và một phần ngực trên chiếm hết toàn bộ màn hình

    Cần phải thực hiện ở mặt cắt dọc giữa chuẩn của thai nhi

    Thai nhi cần phải ở tư thế trung gian, với phần đầu cùng một đường thẳng với cột sống. Khi cổ thai nhi ưỡn quá mức, việc đo đạc  sẽ bị sai lầm dày thêm, và khi cổ thai nhi quá gập, việc đo đạc sẽ mắc sai lâm là làm mỏng đ

    Hình ảnh đo độ mờ da gáy

    Hình ảnh đo độ mờ da gáy

    Lưu ý:  Cần phải cẩn thận phân biệt giữa da thai nhi và màng ối

    Xem thêm:

    Giá trị siêu âm độ mờ da gáy như thế nào là bình thường??

    Chắc chắn đây là một trong những câu hỏi được rất nhiều người quan tâm, đặc biệt là các mẹ bầu trong giai đoạn thai kỳ. Trong quá trình làm việc, tôi thường xuyên nhận được những thắc mắc liên quan đến vấn đề này, chẳng hạn như:

    • Siêu âm độ mờ da gáy như thế nào là dày, thưa bác sĩ?
    • Chỉ số độ mờ da gáy 0.8, 0.9, 1.0, 1.1, 1.2, 1.3, 1.4… có bình thường hay không?
    • Chỉ số siêu âm độ mờ da gáy bao nhiêu là tốt?

    Ý nghĩa của chỉ số độ mờ da gáy

    Trên thực tế, không có một chỉ số cố định nào có thể khẳng định chắc chắn rằng thai nhi hoàn toàn bình thường. Tuy nhiên, khi độ mờ da gáy tăng lên, xác suất thai nhi mắc dị tật bẩm sinh cũng sẽ tăng theo.

    Để đánh giá nguy cơ này, bác sĩ không chỉ dựa vào một chỉ số đơn lẻ mà thường kết hợp với nhiều yếu tố khác như:

    • Xét nghiệm máu của mẹ
    • Tuổi của mẹ
    • Tuổi thai
    • Tần số nhịp tim của thai nhi

    Từ các dữ liệu này, bác sĩ sẽ tính toán nguy cơ mắc bệnh bẩm sinh cho từng trường hợp cụ thể. Nếu tỷ lệ nguy cơ lớn hơn 1/250, thai nhi sẽ được xếp vào nhóm có nguy cơ cao.

    Ngưỡng đánh giá độ mờ da gáy

    Trong thực hành lâm sàng, các bác sĩ thường lấy mốc 2.5mm để tư vấn cho mẹ bầu. Nếu độ mờ da gáy lớn hơn mức này, thai nhi có thể cần làm thêm các xét nghiệm sàng lọc khác để có kết luận chính xác hơn.

    Ví dụ: Thai nhi có da gáy từ 3.5-4.4 mm

    Trong 100 thai nhi có da gáy từ 3.5-4.4 mm được chẩn đoán ở thai 12 tuần sẽ có 20 trường hợp  bất thường nhiễm sắc thể và 80 trường hợp bình thường

    Trong 80 thai nhi bình thường 2 ( 2,5%) thai nhi chết sau vài tuần

    Ngoài ra, trong số 80 thai bình thường đó sẽ có 8 trường hợp có bất thường nặng

    Còn lại 70 thai nhi bình thường không có dị tật sẽ được sinh ra sống và khỏe mạnh

    Độ mờ da gáy dày có nguy hiểm không

    Độ mờ da gáy dày có nguy hiểm không

    Mặc dù  thai có da gáy dày thường đi kèm với bất thường và thai chết, tuy nhiên phần lớn thai sẽ sống  và phát triển bình thường

    Sau khi chẩn đoán dày da gáy, mục tiêu đặc ra là phải phân biệt chính xác và nhanh chóng giữa nhóm có khả năng bất thường và nhóm có khả năng bình thường. ví dụ nếu em bé của bạn được chẩn đoán có xác suất 1/70 mắc bệnh bẩm sinh, đây là nhóm có tần suất cao nhưng trên thực tế 70 em bé sinh ra mới có 1 em bị dị tật bẩm sinh , tỷ lệ khoảng 1,42% thôi.

    Tỷ lệ chết liên quan tới độ mờ da gáy dày

    Tỷ lệ chết liên quan tới độ mờ da gáy dày

    Siêu âm độ mờ da gáy dày gặp trong những bệnh lý gì??

    Độ dày lớp mờ da gáy tăng  liên quan với: Trisomy 21 và những bất thường nhiễm sắc thể khác Hơn 50 loại dị tật và hội chứng di truyền Tử vong thai nhi

    Tuy nhiên, trong đại đa số các trường hợp, da gáy sẽ giảm đi và các bé được sinh ra khỏe mạnh

    Ngoài ra độ mờ da gáy dày có thể gặp trong trường hợp sau:

    Độ mờ da gáy dày  có liên quan với một nhóm các tình trạng rối loạn và được lý giải là có thể không do một cơ chế riêng lẻ nào tạo ra sự tích tụ dịch dưới da vùng cổ thai nhi, có thể kể đến các nguyên nhân như

    • Bất thường tim
    • Thay đổi thành phần ngoại bào
    • Ứ máu tĩnh mạch đầu cổ
    • Thất bại dẫn lưu mạch bạch huyết
    • Thiếu máu
    • Giảm protein máu
    • Nhiễm trùng thai

    Bạn nên làm gì khi kết quả siêu âm độ mờ da gáy dày?

    Theo như phân tích ở trên, chẳng may em bé của bạn có độ mờ da gáy dày thì bạn cũng không quá hoang mang, nên kết hợp các xét nghiệm cận lâm sàng khác như xét nghiệm máu, theo dõi nhịp tim em bé, kết hợp yếu tố tuổi mẹ và tuổi thai, nếu xác suất cao, bác sỹ sẽ chỉ định cho bạn các xét nghiệm chuyên sâu như sinh thiết gai nhau, chọc nước ối, NIPT…. Và đặc biệt bác sỹ sẽ chỉ định cho bạn nên làm thêm siêu âm hình thái em bé sớm vào lúc 18 tuần. nói chung bạn nên bình tĩnh làm theo các bước hướng dẫn là được phải không nào.

    Siêu âm độ mờ da gáy ở đâu tốt nhất?

    Khi lựa chọn nơi để siêu âm đo độ mờ da gáy, bạn nên tham khảo các bệnh viện chuyên về sản phụ khoa. Đây là những cơ sở có đội ngũ bác sĩ được đào tạo bài bản, có chuyên môn cao trong việc thực hiện các kỹ thuật siêu âm quan trọng. Một số bệnh viện uy tín mà bạn có thể cân nhắc bao gồm:

    • Bệnh viện Từ Dũ
    • Bệnh viện Mekông
    • Bệnh viện Hùng Vương
    • Bệnh viện Phụ Sản Trung Ương

    Chứng chỉ siêu âm độ mờ da gáy do FMF cấp cho bs Nguyễn Đức TỈnh

    Chứng chỉ siêu âm độ mờ da gáy do FMF cấp cho bs Nguyễn Đức TỈnh

    Nếu bạn đang ở Gò Vấp, TP.HCM, bạn có thể liên hệ với Bác sĩ Nguyễn Đức Tỉnh – Bệnh viện Quân Y 175. Bác sĩ đã được đào tạo chuyên sâu và sở hữu chứng chỉ siêu âm đo độ mờ da gáy do Tổ chức Y tế Bào Thai cấp năm 2019. Hiện nay, phòng khám của bác sĩ Nguyễn Đức Tỉnh hợp tác và hoạt động tại hai địa chỉ chính:

    • TP. HCM: Bệnh viện Quân đội 175 – 786 Nguyễn Kiệm, Phường 3, Gò Vấp.
    • Hà Nội: Bệnh viện Hồng Phát – 219 Lê Duẩn, Nguyễn Du, Hai Bà Trưng.

    Thông tin liên hệ:

    • Email: [email protected]
    • Hotline/Zalo: 0976958582
    • Website: https://nguyenductinh.com/

    Chúng tôi hy vọng bài viết này sẽ giúp bạn tìm được địa chỉ siêu âm phù hợp, đảm bảo sức khỏe cho cả mẹ và bé. Nếu thấy bài viết hữu ích, hãy thả like và chia sẻ để lan tỏa những thông tin quan trọng này đến nhiều người hơn nhé!

  • Siêu âm tim và ý nghĩa các chỉ số quan trọng

    Siêu âm tim và ý nghĩa các chỉ số quan trọng

    Siêu âm tim là một phương pháp chẩn đoán hình ảnh quan trọng giúp đánh giá cấu trúc và chức năng của tim một cách chính xác, không xâm lấn. Đây là công cụ hữu ích trong việc phát hiện sớm các bệnh lý tim mạch như suy tim, bệnh van tim, rối loạn nhịp tim và nhiều vấn đề tim mạch khác. Trong quá trình siêu âm, các chỉ số quan trọng như phân suất tống máu (EF), kích thước buồng tim, vận tốc dòng máu qua van tim… sẽ được đo lường để bác sĩ có cơ sở đánh giá tình trạng tim mạch của bệnh nhân. Vậy từng chỉ số có ý nghĩa như thế nào? Hãy cùng tìm hiểu chi tiết trong bài viết dưới đây.

    Siêu âm tim là gì?

    Siêu âm tim là một hình thức của siêu âm, bác sỹ dùng để đánh giá chức năng hoạt động của quả tim của chúng ta, khi siêu âm tim bạn có thể biết được các thông số cơ bản như kích thước các buồng tim, chức năng hoạt động của tìm có bình thường hay bị giảm, các khối u bất thường trong tim, hoặc có thể phát hiện tình giạng nhồi máu cơ tim, siêu âm tim là kỹ thuật cận lâm sàng, thường do bác sỹ Tim mạch hoặc bác sỹ Chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh thực hiện sau khi được đào tạo chuyên sâu về siêu âm tim từ 3-6 tháng.

    Hình ảnh siêu âm tim

    Chỉ định siêu âm tim

    Chỉ định siêu âm tim thường được áp dụng trong các trường hợp sau:

    • Nhịp đập và kích thước tim to bất thường
    • Khi có cơn đau ngực không rõ nguyên nhân
    • Khi Nhịp tim không đều
    • Nhằm tầm soát bất thường bẩm sinh về tim
    • Khảo sát cấu trúc van tim, buồng tim, chức năng co bóp của thành tim
    • Đánh giá các huyết khối ở trong tim hoặc các mạch máu lớn cạnh tim
    • Chẩn đoán sàng lọc trước khi phẫu thuật tim nhằm biết rõ cấu trúc giải phẫu và chức năng của tim
    • Đánh giá cơ tim, các trường hợp nghi chèn ép tim cấp trong tràn dịch màng ngoài tim
    • Trong chấn thương ngực mà không loại trừ được có chấn thương tim hay không
    • Tầm soát tim trước khi thực hiện các phẫu thuật lớn ở cơ quan khác…..

    Các loại siêu âm tim hiện nay

    Chia theo vị trí khảo sát thì có:

    • Siêu âm tim qua thành ngực
    • Siêu âm tim qua thực quản

    Chia theo kỹ thuật khảo sát thì có:

    • Siêu âm tim TM
    • Siêu âm tim 2D
    • Siêu âm tim 3D, 4D
    • Siêu âm tim gắng sức
    • Siêu âm tim có chất tương phản màu

    Các loại siêu âm tim hiện nay

    Lưu ý khi đi làm siêu âm tim

    • Khi đi siêu âm tim bạn cần lưu ý gì? Có thể nói kỹ thuật siêu âm tim là một kỹ thuật khá chuyên sâu, trước khi thực hiện siêu âm tim bạn cần được khám lâm sàng bởi bác sỹ tim mạch, sau đó bạn sẽ được chỉ định siêu âm tim và các kỹ thuật cận lâm sàng khác như xét nghiệm máu, chụp XQ tim phổi , làm điện tim … nhằm đánh giá một cách tổng thể chứ không thể chỉ dựa vào kết quả siêu âm tim để chẩn đoán bệnh được.
    • Khi thực hiện siêu âm tim, bạn không cần phải chuẩn bị trước điều gì, tuy nhiên trước khi thực hiện hãy hít sâu thở đều, tránh trường hợp bị hồi hộp gây tăng nhịp tim quá mức gây ảnh hưởng sai lệch kết quả siêu âm tim.

    ý nghĩa các chỉ số trong siêu âm tim

    • Ao: Động mạch chủ (Aorta)
    • LA: Nhĩ trái (Left Atrium)
    • RA: Nhĩ phải (Right Atrium)
    • LV: Thất trái (Left Ventricular)
    • RV: thất phải (Right Ventricular)
    • LVOT: buồng tống thất trái (left ventricular outflow tract)
    • RVOT: buồng tống thất phải (right ventricular outflow tract)
    • EF: phân suất tống máu (Ejection Fraction)
    • EF (teich): phân suất tống máu theo phương pháp Teicholz
    • IVSd: Độ dày vách liên thất kỳ tâm trương (Interventricular Septal Diastolic)
    • IVSs: Độ dày vách liên thất kỳ tâm thu (Interventricular Septal Systolic)
    • LVEDd : Đường kính thất trái tâm trương (Left Ventricular End Diastolic Dimension)
    • LVEDs: Đường kính thất trái tâm thu (Left Ventricular End Systolic Dimension)
    • LVPWd: Độ dày thành sau thất trái tâm trương (Left ventricular posterior wall diastolic)
    • LVPWs: Độ dày thành sau thất trái tâm thu (Left ventricular posterior wall systolic)
    • EDV (Teich): Thể tích cuối tâm trương theo phương pháp Teicholz (End diastolic Volume)
    • ESV (Teich): Thể tích cuối tâm thu theo phương pháp Teicholz ( End-systolic volume)
    • SV (Teich): Stroke Volume
    • Ann: Đường kính vòng van (Annular)
    • AML: Lá trước van hai lá (anterior mitral valve leaflet)
    • PML: Lá sau van hai lá (posterior mitral valve leaflet)
    • MVA: Đường kính lỗ van hai lá (mitral valve area)
    • PHT: Thời gian giảm nửa áp lực (Pressure half time)
    • TV: Van ba lá (Tricuspid Valve)
    • AnnTV: Đường kính vòng van ba lá (Annular Tricuspid Valve)
    • AV: Van động mạch chủ (Aortic Valve)
    • AoVA: Đường kính vòng van động mạch chủ
    • AoR: Đường kính xoang Valsalva
    • STJ: Chỗ nối xoang ống
    • AoA: Động mạch chủ lên
    • AoT: Động mạch chủ đoạn quai
    • AoD: Động mạch chủ xuống
    • AVA: Đường kính lỗ van động mạch chủ

    Siêu âm tim PW

    Chỉ số bình thường và bất thường trong siêu âm tim

    A – NHĨ TRÁI

    • Đường kính nhĩ trái – Left atrial diameter (mm), Bình thường 30-40; giãn nhẹ 41-46; giãn vừa 47-52; giãn nhiều >52
    • Đường kính nhĩ trái theo diện tích da – Left atrial diameter/body surface (mm/m2), Bình thường 15-23; giãn nhẹ 24-26; giãn vừa 27-29; giãn nhiều >29
    • Thể tích nhĩ trái – Left atrial area (cm2), Bình thường <21; giãn nhẹ 21-30; giãn vừa 31-40; giãn nhiều >40
    • Thể tích nhĩ trái theo diện tích da – Left atrial volume/body surface (ml/m3), Bình thường ≤34

    B – NHĨ PHẢI

    • Đường kính trục ngắn nhĩ phải – Minor right atrial diameter (mm), Bình thường 29-45; giãn nhẹ 46-49; giãn vừa 50-54 ; giãn nhiều >54
    • Đường kính trúc ngắn nhĩ phải / diện tích da – Minor right atrial diameter/body surface (mm/m2), Bình thường: 19 ± 3 (1 SD)
    • Đường kính trục dài nhĩ phải – Major right atrial diameter/body surface (mm/m²), Bình thường: Nam 24 ± 3 (1 SD), Nữ 25 ± 3 (1 SD)
    • Thể tích nhĩ phải / diện tích da – Right atrial volume/body surface (ml/m²), Bình thường: Nam 25 ± 7 (1 SD),  Nữ 21 ± 6 (1 SD)

    C – THẤT TRÁI (LEFT VENTRICLE)

    Các chỉ số bình thường:
    IVSd:6-10mm IVSs:6-13mm
    LVEDd:40-60mm LVEDs:20-40mm
    LVPWd:6-11mm LVPWs:6-13mm
    EDV:nam65-155ml,nữ 55-110ml ESV:nam20-60ml,nữ20-50ml
    EF:≥55% FS:28-42%

    Phân suất tống máu – Ejection fraction (%)

    • Phân loại cổ điển cho cả hai giới: Bình thường ≥55; Bất thường nhẹ 45-54, vừa 30-44, nặng <30 Phân loại mới cho nam: Bình thường 52-72; Bất thường nhẹ 41-51, vừa 30-40, nặng <30
    • Phân loại mới cho nam: Bình thường 54-74; Bất thường nhẹ 41-53, vừa 30-40, nặng <30
    Các thành tim và khối cơ: Thành sau và vách – Thickness of posterior and septal wall (mm): Bình thường 6-9; Bất thường nhẹ 10-12, vừa 13-15, nặng >15

    D – THẤT PHẢI (RIGHT VENTRICLE)

    RVD1 (Basal RV diameter):25-41mm

    RVD2 (Mid ventricular RV diameter):19-35mm

    RVD3 (Base apex distance): 59-83mm

    RVOT1 (Proximal RVOT):21-35mm

    RVOT2 (Distal RVOT):17-27mm

    Cách đó kích thước thất phải

    Cách đó kích thước thất phải

    Chiều dày thành (RV wall thickness): ≤5mm, TAPSE:>17mm

    Vận tốc đỉnh tâm thu Doppler mô của vòng van 3 lá(Peak systolic tissue doppler velocity of the tricuspidannulus(S wave) PW-Doppler)

    Xem thêm:

    E – ĐỘNG MẠCH CHỦ VÀ VAN ĐỘNG MẠCH CHỦ (AOROTA AND AORTIC VALVE)

    Các chỉ số bình thường:
    • Biên độ mở van ở đầu kỳ tâm thu: 15-25mm
    • Vmax: <2.5m/s Gp: <35mmHg
    • PHT: >500ms
    • Diện tích lỗ van: 3-4cm2
    • Đường kính động mạch chủ (20-36mm)
    AO/Vịtrí Vòng van Xoang Valsalva Đoạn nối Đoạn lên Đoạn cung
    Bình thường 20-31mm 29-45mm 22-36mm 22-36mm 22-36mm
    Theo diện tích da 12-14mm/m2 15-20mm/m2 13-17mm/m2 13-17mm/m2
    Hở van chủ (Aortic valve regurgitation):
    Đánh giá theo mức độ lan truyền dòng hở van trong thất trái:
    • Độ 1: Dòng chảy chỉ giới hạn ngay dưới van chủ
    • Độ 2: Dòng chảy lan tới không quá ½ lá trước van 2 lá
    • Độ 3: Dòng chảy lan tới cơ nhú
    • Độ 4: Dòng chảy lan tới mỏm tim
    Venacontracta(cm) PHT (thời gian nửa áp lực)CW-Doppler Dòng chảy tâm trương đảo ngượcđộngmạchchủxuống
    Nhẹ:<0.3

    Vừa:0.3-0.6

    Nặng:>0.6

    Nhẹ:>500

    Vừa:200-500

    Nặng:<200

    Nhẹ: nếucóở tâm trương

    Vừa: tâmtrươngsớm

    Nặng:toàn tâm thu

    Định lượng dòng hở (Jet-quantification):
    • Jet-width / LVOT-width: nhẹ <0.25; vừa 0.25-0.64; nặng >0.64
    • Jet-area / LVOT-area: nhẹ <0.05; vừa 0.05-0.59; nặng >0.59
    Các tham số định tính:
    Chỉsố /Mứcđộ hở Mức độ nhẹ Mức độ vừa Mức độ nặng
    S Hở (Jet area) Nhỏ Biến đổi Lớnnếutrungtâm,

    biếnđổinếulệchtâm

    Khuyết diện tiếp xúc van Nhẹ Vừa Nhiều
    Dòng hở trên CW

     

    Nhạt Biến đổi Đậm
    Nhĩ trái Bìnhthường Bt Or giãn Giãn
    Thất trái Bìnhthường BT Or giãn Giãn

     

    Dòng hở trên CW

     

    Nhạt Biếnđổi Đậm
    Nhĩ trái BT BT or giãn Giãn
    Thất trái BT BT or giãn Giãn

    Thêm vào thông số PISA (Additional PISA-parameters)

    Chỉsố / Mứcđộ hở Mứcđộ nhẹ Mứcđộvừa Mứcđộ nặng
    EROA(cm2) <0.10 0.10-0.29 >0.29
    Thể tích hở

     

    =EROA xTVI

    (ml / nhát bóp)

    <30 30-59 >59
    Phân suất hở%

     

    <30 30-49 >49
    Hẹp van chủ (Aortic valve stenosis): Diện tích van – Valve area (cm2)
    Nhẹ >1.5; Vừa 1.0-1.5; Nặng <1.0
    Diện tích van / Diện tích da – Normalized valve area (cm2/m2)
    Nhẹ >0.85; Vừa 0.60-0.85; Nặng <0.60
    Đo các thông số (mmHg)
    Chênh áp TB(mmHg) V tối đa(m/s) Chênh áp

    tối đa(mmHg)

    Tỷ số vận tốc (đường rathấttrái/vanchủ)
    Nhẹ:<20

    Vừa:20-40

    Nặng:>40

    Nhẹ:2.6-2.9

    Vừa:3.0-4.0

    Nặng:>4.0

    Nhẹ:<35

    Vừa:35-65

    Nặng:>65

    Nhẹ:>0.5

    Vừa:0.25-0.5

    Nặng:<0.25

    F – ĐỘNG MẠCH PHỔI VÀ VAN ĐMP (PULMONARY AND PULMONARY VALVE)

    • Đường kính bình thường ĐMP: 15-20mm

    • Bình thường: Vmax 60-90cm/s

    • Áp lực động mạch phổi tâm thu = 4 V2hở 3 lá + Áp lực nhĩ phải. hở 3 lá là vận tốc tối đa của dòng hở 3 lá.
    • Áp lực nhĩ phải: bình thường là 5 mmHg, khi suy tim nhẹ là 10 mmHg, khi suy tim nặng là 15 mmHg.
    • Áp lực động mạch phổi tâm trương = 4V2cuối tâm trương + 10., V2 cuối tâm trương là vận tốc cuối tâm trương của phổ dòng hở van động mạch phổi. Bình thường, áp lực động mạch phổi tâm trương là 12-14,5mmHg.
    • Áp lực động mạch phổi trung bình = 4V2đầu tâm trương + 10., V2 đầu tâm trương là vận tốc đầu tâm trương của phổ dòng hở van động mạch phổi. Bình thường áp lực động mạch phổi trung bình là 15-23mmHg.
    Hẹp van ĐMP (Pulmonary valve stenosis):
    • Hẹp nhẹ: Vmax <3m/s Gpmax <36mmHg
    • Hẹp vừa: Vmax 3-4m/s Gpmax 36-64mmHg
    • Hẹp nặng: Vmax >4m/s Gpmax >64mmHg
    Hở van ĐMP (Pulmonary valve regurgitation):
    • Hở nhẹ (Kích thước dòng hở với Nyquist 50-60cm/s: Gốc hẹp, thường <10mm)
    • Hở vừa (Kích thước dòng hở với Nyquist 50-60cm/s: trung gian)
    • Hở nặng (Kích thước dòng hở với Nyquist 50-60cm/s: Lớn gốc rộng, có thể ngắn)

    G – VAN 2 LÁ (MITRAL VALVE)

    • Chỉ số bình thường:
    • Ve: 60-120cm/s Va: 50-80cm/s Gp: <5mmHg E/A>1 Diện tích lỗ van 2 lá: 4-6cm2
    • EF slope: 75-125mm/s (Dốc tâm trương) DE: 17-23mm (Biên độ di động của lá trước)
    • Hẹp van 2 lá (Mitral valve stenosis):
    Mứcđộhẹp

    Nhẹ

    Vừa

    Nặng

    Diệntíchlỗ van(cm2)

    >1,5

    1-1,5

    <1

    PHT(ms)

    <146

    146-220

    >220

    Chênháptrungbình(mmHg)

    <5

    5-10

    >10

    Áplựcđộngmạchphổi (mmHg)

    <30

    30-50

    >50

    Hở van 2 lá (Mitralvalve regurgitation)

    • Bình thường:Không có dòng phụt
    • Nhẹ: Dòng phụt trung tâm (thường<4cm2, hay<20%diện tích nhĩ trái)
    • Vừa:Dòng phụt trung bình (4-10cm2, hay20-40%diện tích nhĩ trái)
    • Nặng:Dòng phụt lớn(thường>10cm2, hay>40%diện tích nhĩ trái, dòng xoáy)

    H–VAN 3 LÁ(TRICUSPIDVALVE)

    • Chỉ số bình thường: Vmax <0,5-1m/s Gp <2mmHg
    • Hẹp van 3 lá (Tricuspid valve stenosis):
    • Dấu chứng hẹp đáng kể về huyết động: chênh áp trung bình ≥5mmHg; tích phân vận tốc thời gian dòng chảy ba lá >60cm; T1/2 ≥190ms;  phương trình liên tục ≤1cm2; nhĩ phải giãn ≥ mức độ vừa; giãn tĩnh mạch chủ dưới.
    • Hở van 3 lá (Tricuspid valve regurgitation):
    • Hở nhẹ: Diện tích dòng hở trung tâm <5cm2, PISA với Nyquist 28cm/s: <0,5cm
    • Hở vừa: Diện tích dòng hở trung tâm 5-10cm2, PISA với Nyquist 28cm/s: 0,6-0,9cm
    • Hở nặng: Diện tích dòng hở trung tâm >10cm2, PISA với Nyquist 28cm/s: >0,9cm

    Trên đây bác sỹ nguyễn Đức Tỉnh tổng hợp một vài thông số quan trọng trong siêu âm tim- Một lĩnh vực rất khó trong chuyên ngành chẩn đoán hình ảnh. nếu bạn thấy bài viết này hay, hãy cho chúng tôi một like và một chia sẻ để chúng tôi làm động lực sẽ tiếp tục chia sẻ nhiều kiến thức y khoa thú vị hơn nữa. Các bạn có thể xem thêm thông tin tại website Nguyenductinh.com. chúc bạn và gia đình luôn mạnh khỏe.

  • Mang thai 24 tuần, thai nhi 24 tuần nặng bao nhiêu

    Mang thai 24 tuần, thai nhi 24 tuần nặng bao nhiêu

    Mang thai 24 tuần là một sự trải nghiệm tuyệt vời đối với tất cả các bà mẹ đặc biệt là những người lần đầu mang thai, thai 24 tuần có đặc điểm gì nổi bật, cân nặng thai nhi 24 tuần được bao nhiêu, các việc bạn cần làm để chuẩn bị cho kế hoạch sinh con của mình. hãy cùng chúng tôi tham khảo qua bài viết : “Mang thai 24 tuần, thai nhi 24 tuần nặng bao nhiêu” nhé các bạn

    Điểm nổi bật trong tuần mang thai thứ 24.

    Các cơ mặt thai nhi bắt đầu hoạt động

    Lông mày của con bạn vừa mới mọc cách đây vài tuần và bây giờ bé đang hoạt động các cơ trên khuôn mặt bằng cách nâng chúng lên hoặc hạ chúng xuống

    Thời điểm để xét nghiệm tiểu đường thai kỳ

    Xét nghiệm tiểu đường thai kỳ được khuyến cáo là một xét nghiệm bắt buộc cho phụ nữ mang thai tử 24-28 tuần tuổi. thời điểm này phụ nữ mang thai sẽ được làm test dung nạp đường huyết. nếu dương tính với tiểu đường thai kỳ, bạn cần gặp bác sĩ chuyên khoa để có cách sinh hoạt, ăn uống tiết chế hoặc thậm chí sử dụng thuốc để kiểm soát đường huyết.

    Hình ảnh hở eo cổ tử cung thai 24 tuần

    Hình ảnh hở eo cổ tử cung thai 24 tuần

    Nhận Biết các dấu hiệu chuyển dạ sinh non

    Khi chuẩn bị sinh non, bạn có thể gặp phải các triệu chứng như sau:

    • Đau bụng dưới như sắp đến tháng.
    • Cơn co thắt ở bụng cứ sau 10 phút hoặc sớm hơn.
    • Buồn nôn, nôn hoặc tiêu chảy.
    • Đau lưng âm ỉ
    • Cảm giác nặng, đau tức vùng chậu hoặc dưới bụng.
    • Đau quặn bụng.
    • Dịch âm đạo bất thường như ẩm ướt có chất nhầy hoặc chút máu.

    Theo dõi kỹ tình trạng đau bụng, ra huyết bất thường hoặc chảy dịch ở âm đạo. đó có thể là hiện tượng sinh non mà rất nhiều người mắc phải, để tránh tình trạng sinh non hoặc thai chết lưu, tốt nhất các mẹ bầu nên được khám tầm soát, siêu âm đo độ dài kênh cổ tử cung để dự báo tình trạng sinh non. Nếu độ dài kênh cổ tử cung nhỏ hơn 25mm, bạn cần có chế độ nghỉ ngơi hoặc sử dụng thuốc để ngăn ngừa tình trạng sinh non.

    Nếu bạn chưa biết cách phát hiện các dấu hiệu chuyển dạ sinh non , thì bây giờ là lúc để tìm hiểu. Liên hệ với bác sĩ hoặc nữ hộ sinh của bạn ngay lập tức nếu bạn nhận thấy bất kỳ dấu hiệu nào trong số các triệu chứng trên

    24 tuần là bao nhiêu tháng?

    Bạn đang ở tháng thứ sáu! Cố lên nào, bạn đà đi được gần 2/3 chặng đường rồi

    Sự phát triển của thai nhi 24 tuần:

    Khi bạn mang thai được 24 tuần, các cử động của em bé có thể cảm thấy mạnh mẽ hơn một chút và dễ nhận thấy hơn, với những cú hích và đá trở nên thường xuyên hơn.

    Đến tuần thứ 24, tai trong của bé đã phát triển đầy đủ. Cơ quan này kiểm soát cảm giác thăng bằng và giúp con bạn nhận biết được mình nằm nghiêng bên phải hay không nằm trong bụng mẹ.

    Mặc dù phổi của bé đã được hình thành vào tuần này, Các túi hô hấp ở đầu các nhánh nhỏ nhất trong phổi của bé đang phát triển và nhân lên, tạo thêm diện tích bề mặt cho quá trình trao đổi oxy và carbon dioxide khi bé chào đời.nhưng phổi của bé sẽ chỉ sẵn sàng hoạt động bình thường ở thế giới bên ngoài sau khi chúng bắt đầu sản xuất một chất gọi là chất hoạt động bề mặt. Quá trình này sẽ bắt đầu trong những tuần sắp tới – thường là khoảng 26 tuần .

    Khi được 24 tuần, bạn có thể nhận thấy những thời điểm mà mức độ chuyển động của bé dường như tăng lên, chẳng hạn như trước khi đi ngủ và những thời điểm khác khi bé có vẻ ít cử động hơn, điều này có thể xảy ra khi bé đang bận ngủ.

    Hình dạng em bé lúc này trông như thế nào

    Hình ảnh siêu âm 4D thai 24 tuần

    Hình ảnh siêu âm 4D thai 24 tuần

    Lúc này, em bé của bạn có thân hình khá gầy, nhưng cơ thể của bé đang đầy đặn tương ứng và sẽ sớm bắt đầu bụ bẫm. Da của em bé vẫn còn mỏng và mờ, nhưng điều đó cũng sẽ bắt đầu thay đổi. Đây cũng là giai đoạn bạn có thể đi siêu âm 4D để đánh giá chi tiết cấu trúc giải phẫu của thai nhi, đồng thời dựa vào siêu âm 4D, bạn có thể nhìn thấy mặt con của mình đó

    Thai nhi 24 tuần nặng bao nhiêu, Hình ảnh siêu âm thai 24 tuần:

    Bảng kích thước siêu âm thai 24 tuần

    Bảng kích thước siêu âm thai 24 tuần

    Thai nhi 24 tuần tuổi nặng bao nhiêu kg? Ở tuần thứ 24, thai nhi đã dài hơn 32 cm và nặng từ 0,6 đến 0,7 kg.

    Một số chỉ số siêu âm cần biết lúc thai 24 tuần:

    • BPD: đường kính lưỡng đỉnh thai nhi
    • HC: chu vi vòng đầu
    • AC: chu vi vòng bụng
    • HL: chiều dài xương cánh tay
    • FL: chiều dài xương đùi
    • HR: nhịp tim Khỏng 130-165 lần/ Phút

    Các triệu chứng mẹ bầu gặp  mang thai tuần 24

    Khi mang thai được 24 tuần, dưới đây là một số triệu chứng bạn có thể gặp phải:

    • Tử cung đang phát triển , Đỉnh tử cung của bạn đã nhô lên trên rốn của bạn. Bây giờ nó có kích thước bằng một quả bóng đá.
    • Lo lắng là bình thường, Thỉnh thoảng bạn lo lắng một chút là điều bình thường , nhưng hãy cố gắng tập trung vào việc chăm sóc bản thân và em bé – và hãy tin rằng bạn đã được trang bị tốt cho những gì phía trước.
    • Thay đổi làn da. Bạn có thể bắt đầu nhận thấy những mảng da sẫm màu hơn trên cơ thể và mặt do thay đổi nội tiết tố. Điều này xảy ra do các tế bào mang sắc tố gọi là melanin bị kích thích. Các mảng màu nâu trên khuôn mặt của bạn được gọi là chloasma, và đường sẫm màu ở bụng được gọi là linea nigra. Sau khi bạn sinh con xong, những vùng sắc tố này thường mờ dần theo thời gian. Các chuyên gia nói rằng tránh tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời và sử dụng kem chống nắng có thể giúp giảm bớt tình trạng nám da. Khi cơ thể phát triển, bạn cũng có thể nhận thấy những vệt đỏ ở nơi da căng ra. Rạn da khi mang thai có nhiều khả năng xảy ra trên các vùng như bụng, mông và ngực của bạn. Rạn da không thể ngăn ngừa được, nhưng chúng có thể mờ dần theo thời gian sau khi bạn sinh con. Bạn cũng có thể bị ngứa khi da căng ra; thoa kem dưỡng ẩm có thể giúp giảm cảm giác ngứa ngáy.
    • Đau dây chằng tròn. Bạn có thể bị đau ở một hoặc cả hai bên bụng hoặc vùng hông. Đây có thể là chứng đau dây chằng tròn, khá phổ biến khi mang thai. Điều này xảy ra do các dây chằng giữ tử cung của bạn đang bị căng và giãn ra. Nhẹ nhàng kéo giãn và thay đổi tư thế có thể giúp giảm đau. Nếu cơn đau quá dữ dội; nếu nó đi kèm với các triệu chứng khác, chẳng hạn như sốt hoặc chảy máu; hoặc nếu bạn hoàn toàn lo lắng, hãy liên hệ với nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe của bạn để kiểm tra.
    • Khó ngủ. Kích thước bụng bầu ở tuần thứ 24 có thể khiến bạn khó tìm được tư thế ngủ thoải mái. Một số chiếc gối được đặt tốt có thể giúp ích cho bạn! Thử nằm nghiêng khi ngủ với đầu gối cong và kê một chiếc gối giữa hai chân và một chiếc gối khác dưới bụng để làm điểm tựa. Đọc thêm trong hướng dẫn ngủ theo tam cá nguyệt của chúng tôi .
    • Mất thăng bằng và chóng mặt. Vòng bụng ngày càng lớn của bạn ảnh hưởng đến cách phân bổ trọng lượng của bạn , khiến bạn dễ cảm thấy mất cân bằng hơn một chút. Ngoài ra, những thay đổi trong hệ tuần hoàn có thể khiến bạn cảm thấy chóng mặt hoặc choáng váng. Có thể giúp bạn di chuyển chậm (đặc biệt là khi bạn đứng dậy hoặc thay đổi tư thế), uống nhiều nước và giữ mát. Nếu bạn cảm thấy chóng mặt, hãy nằm nghiêng, nếu bạn có thể.
    • Chuột rút chân. Gần đây bạn có bị đau bắp chân hoặc co rút cơ bàn chân không? Không có gì bất thường khi bạn cảm thấy chuột rút như thế này khi thai được 24 tuần. Trên thực tế, bạn có thể gặp phải triệu chứng này bất cứ lúc nào cho đến ngày em bé chào đời. Mặc dù các chuyên gia không biết nguyên nhân chính xác của chuột rút ở chân khi mang thai, nhưng có những cách có thể giảm triệu chứng này như:
    • Căng cơ bắp chân trước khi ngủ vào buổi tối,
    • Giữ thể lực thông qua tập thể dục thường xuyên
    • Uống nhiều nước để giúp giảm chuột rút.

    Mang thai 24 tuần: Những điều cần cân nhắc

    • Khi bụng của bạn lớn dần lên, bạn và đối tác của bạn có thể tự hỏi liệu quan hệ tình dục có còn an toàn hay không. Nếu thai kỳ của bạn tiến triển bình thường, quan hệ tình dục có lẽ là an toàn, nhưng nếu thai kỳ của bạn có biến chứng, bác sĩ có thể khuyên bạn nên kiêng. Đọc thêm về tình dục khi mang thai để biết thêm thông tin và thảo luận về cảm xúc của bạn với đối tác của bạn. Hãy nhớ rằng khi mang thai, ham muốn tình dục của cả bạn và đối tác của bạn có thể khác nhau. Tuy nhiên khi quan hệ bạn vẫn nên sử dụng các biện pháp an toàn để ngăn ngừa bệnh lây truyền qua đường tình dục như bệnh lậu, HIV, giang mai…
    • Giữ đủ nước là điều quan trọng, nhưng nhiều người phải vật lộn để uống đủ mỗi ngày. Là một người mẹ sắp làm mẹ, bạn cần uống nhiều nước để cơ thể khỏe mạnh và hỗ trợ cho sự phát triển của thai nhi. Các chuyên gia khuyên bạn nên uống khoảng 10 cốc nước mỗi ngày tương đương 2-2,5l nước trong ngày. Nếu bạn có xu hướng quên uống nước trong một ngày bận rộn của mình, hãy đặt lời nhắc trên điện thoại nhắc bạn uống một cốc nước vài giờ một lần
    • Bạn nên bắt đầu thảo luận về sở thích sinh con của mình với bác sĩ, nữ hộ sinh và bạn đời của mình. Bạn đời và các bác sĩ của bạn càng biết nhiều về sở thích cá nhân của bạn và hình thức sinh bạn muốn có, thì họ càng có thể hỗ trợ bạn tốt hơn khi đến thời điểm chuyển dạ. Người bạn đời của bạn có thể hỗ trợ bạn bằng cách thực hiện một số biện pháp thoải mái nhất định như mát-xa, động viên và hỗ trợ tinh thần cho bạn. Vẫn còn nhiều thời gian để thảo luận và viết kế hoạch sinh con, nếu bạn muốn, nhưng bây giờ là thời điểm tốt để bắt đầu những cuộc trò chuyện này.
    • Bạn có thể đang trải qua một số điều kỳ lạ mà bạn không thể hoàn thành. Có lẽ bạn đang có những giấc mơ điên rồ, hoặc có thể bạn đang đấu tranh để giữ tập trung trong khi bình thường bạn đang làm rất tốt mọi thứ.

    Mang thai 24 tuần: Danh sách Cần làm của bạn

    Để mẹ bầu mang thai 24 tuần luôn được vui tươi, khở mạnh bạn cần chu ý làm một số điều sau:

    • Cảm thấy căng thẳng? Hãy nuông chiều bản thân bằng cách mát-xa trước khi sinh. Tìm một chuyên gia mát-xa được đào tạo đặc biệt để điều trị cho những bà mẹ sắp sinh.
    • Vài tuần tới có thể là cơ hội tốt để đi du lịch trước khi em bé của bạn chào đời. Sau khoảng 28 tuần của thai kỳ, việc đi lại thường khó khăn hơn, vì đi bộ nhiều có thể mệt mỏi và ngồi trong thời gian dài có thể cực kỳ khó chịu. Nếu bạn đang nghĩ về một nơi nghỉ ngơi, hãy bắt đầu tổ chức một kỳ nghỉ vào phút cuối.
    • Chuẩn bị sẵn sàng cho ngôi nhà của bạn
    • Nếu bản năng làm tổ của bạn đang hoạt động, hãy tận dụng tối đa nó! Ngoài việc sắp xếp, dọn dẹp và chuẩn bị không gian cho bé, hãy nghĩ đến sự an toàn – danh sách kiểm tra việc giữ trẻ của chúng tôi là một nơi tốt để bắt đầu.
    • Xem xét, tham khảo các ngân hàng lưu trữ máu cuống rốn
    • Nếu bạn muốn thu thập và lưu trữ máu cuống rốn của con mình khi mới sinh hoặc hiến tặng, bạn cần phải thu xếp sớm. Tìm hiểu thêm về ngân hàng máu cuống rốn . việc lưu trữ máu cuống rốn sẽ rất hữu ích cho con bạn hay các thành viên trong gia đình của bạn. vì máu trong cuống rốn chứa rất nhiều tế bào gốc, sẽ rất có giá trị chữa được nhiều bệnh cho con bạn đó.

    Trên đây là một số chia sẻ của bác sĩ Nguyễn Đức Tỉnh về một số đặc điểm và dấu hiệu khi mang thai 24 tuần, Để biết thêm thông tin hãy truy cập trang website Nguyenductinh.com, để cập nhật nhưng thông y khoa chính xác, chi tiết nhất

  • Giãn não thất là gì, não thất bên bao nhiêu là bình thường

    Giãn não thất là gì, não thất bên bao nhiêu là bình thường

    Giãn não thất là một tình trạng bệnh lý rất nguy hiểm xẩy ra ở thai nhi, nó không chỉ ảnh hưởng tới chức năng của hệ thần kinh trung ương mà còn có thể là nguyên nhân của các đột biến nhiễm sắc thể. do đó phát hiện và xử lý kịp thời tình trạng giãn não thất là một yêu cầu cấp thiết đối với bác sỹ và gia đình người có con em bị giãn não thất. Hãy cùng tìm hiểu bài viết: “Giãn não thất là gì, não thất bên bao nhiêu là bình thường ” nhé các bạn.

    Kích thước bình thường của não thất bên

    Não thất bên là một cấu trúc chứa dịch não tủy trong sọ não của con người. Bình thường hệ thống não thất ở người gồm có não thất bên, não thất ba, não thất tư và khoang dịch não tủy ở tủy sống. các khoang chứa dịch này thông thương với nhau. Bình thường dịch não tủy được hình thành từ đám rối màng mạch não thất bên sau đó lưu thông sang các khoang khác, Kích thước não thất bên là một chỉ số quan trọng khi siêu âm thai nhi, khi siêu âm chúng ta đo kích thước chiều rộng của sừng sau não thất bên.

    Ảnh 1 não thất bên bao nhiêu là bình thường

    Ảnh 1 não thất bên bao nhiêu là bình thường

    Bình thường bề rộng sừng sau não thất bên có kích thước nhỏ hơn 10mm nếu kích thước này lớn hơn 10mm thì được gọi là giãn não thất, khi não thất giãn có thể là do bị bít tắt sự lưu thông của dịch não tủy hoặc do nhiều nguyên nhân khác như nhiễm trùng, bất thường cấu trúc não.

    Phân loại mức độ giãn não thất bên:

     Hình ảnh thực tế cùa chụp CT mức độ giãn não thất bên 

    Hình ảnh thực tế cùa chụp CT mức độ giãn não thất bên 

    • Giãn nhẹ từ 10-12mm
    • Giãn vừa từ 12-15mm
    • Giãn nặng khi trên 15mm gọi là não úng thủy

    Giãn não thất ở thai nhi là một dị tật thai nguy hiểm cần được phát hiện và điều trị sớm để tránh nguy cơ dẫn đến não úng thủy, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của thai nhi và của người mẹ.

    Các nguyên nhân gây nên giãn não thất bên:

    • Nhiễm trùng hệ thần kinh TW
    • Dị tật cấu trúc não/tủy sống
    • Bất thường  bộ nhiễm sắc thể
    • Xuất huyết, chấn thương sọ não
    • Giãn não thất bên đơn độc không rõ nguyên nhân

    Chẩn đoán giãn não thất dựa vào phương tiện gì.

    Ở thai nhi, phương tiện để chẩn đoán giãn não thất phổ biến nhất là dùng siêu âm thai, khi siêu âm thai không những biết được các chỉ số của thai như cân nặng, kích thước sọ não, kích thước chân, tay, số lượng nước ối mà còn có khả năng khảo sát cấu trúc so não. Khi siêu âm hình thái thực hiện lúc 18-22 tuần, các bác sỹ siêu âm sẽ tiến hành đo đạc các chỉ số trong đó đo kích thước bề rộng của não thất bên, bình thường kích thước này sẽ nhỏ hơn 10mm, nếu giãn lớn hơn 10 thì sẽ sử dụng các biện pháp kỹ thuật cao hơn như chụp MRI sọ não thai nhi để đánh giá chi tiết cấu trúc hệ thần kinh TW’

    Bạn cần làm gì khi thai được chẩn đoán là giãn não thất?

    Khi não thất bên >10mm, bạn có thể cần làm thêm các xét nghiệm sau:

    • Khảo sát kỹ lại một lần nữa hình thái và cấu trúc thai nhi bởi bác sỹ siêu âm tiền sản có kinh nghiệm để đánh giá một cách tổng quát nhất.
    • Có thể khảo sát kỹ cấu trúc sọ não bằng siêu âm đầu dò ngả âm đạo nếu thai nhi đã quay đầu, ki đó sẽ cho hình ảnh rõ nét hơn.
    • Bạn có thể được tư vấn chọc ối hoặc sinh thiết gai nhau( nếu thai nhỏ) để chẩn đoán tiền sản, thường tìm các nguyên nhân đột biến gây dị tật bẩm sinh thai .
    • Sàng lọc các nguyên nhân gây nhiễm trùng bào thai như CMV hay Toxoplasmosis…
    • Chụp cộng thưởng từ MRI để khảo sát cấu trúc sọ não
    • Xét nghiệm NIPT là xét nghiệm tiền sản không xâm lấn để đánh giá đột biến nhiễm sắc thể hoặc các bệnh di truyền

    Nếu các bất thường khác đều “âm tính”, thai của bạn sẽ được chẩn đoán dãn não thất “đơn độc”, khi đó sẽ theo dõi định kỳ theo hướng dẫn của bác sỹ, Tuy nhiên khi chẩn đoán giãn não thất đơn độc không có nghĩa là thai nhi của bạn hoàn toàn bình thường vì có thể nhiều nguyên nhân mà chúng ta chưa phát hiện được. do đó cần phải theo dõi kỹ và đánh giá lại sau khi em bé đã sinh ra.

    Tôi nên siêu âm thai ở đâu để đánh giá bất thường về não thất thai nhi.

    Hiện nay bạn có thể khám thai và theo dõi thai bằng siêu âm ở tất cả các bệnh viện và phòng khám có siêu âm chẩn đoán tiền sản. vì chỉ khi siêu âm tiền sản tức là siêu âm hình thái thì mới thực hiện khảo sát các cấu trúc thai chi tiết mà siêu âm bình thường không làm. Khi theo dõi thai, bạn cũng chọn các nơi có uy tín, nếu ở TP.HCM bạn có thể tới bv Từ dũ, bệnh viện Hùng vương, Bệnh viên Phụ sản Mekong, bệnh viên quân y 175 để khám và theo dõi.Hiện nay, phòng khám của bác sĩ Nguyễn Đức Tỉnh hợp tác và hoạt động tại hai địa chỉ chính:

    • TP. HCM: Bệnh viện Quân đội 175 – 786 Nguyễn Kiệm, Phường 3, Gò Vấp.
    • Hà Nội: Bệnh viện Hồng Phát – 219 Lê Duẩn, Nguyễn Du, Hai Bà Trưng.

    Thông tin liên hệ:

    • Email: [email protected]
    • Hotline/Zalo: 0976958582
    • Website: https://nguyenductinh.com/
  • Phân độ chấn thương Gan theo aast năm 2018 – Bác sĩ Nguyễn Hữu Tỉnh

    Phân độ chấn thương Gan theo aast năm 2018 – Bác sĩ Nguyễn Hữu Tỉnh

    Chấn thương gan là một trong những chấn thương tạng đặc thường gặp nhất trong chấn thương bụng kín, việc phân độ chấn thương không chỉ giúp đánh giá chi tiết mức độ tổn thương gan mà còn giúp các nhà lâm sàng có cái nhìn tổng quán, tiên lượng, đưa ra phương pháp điều trị cụ thể phù hợp nhất. mời các bạn đồng nghiệp theo dõi bài viết phân loại chấn thương gan theo AAST cập nhập năm 2018

    Phân loại AAST trong chấn thương Gan 2018 (american association for the surgery of trauma) là bản cập nhật chỉnh sửa mới nhất cho hệ thống phân loại chấn thương gan. Bản cập nhật năm 2018 kết hợp “chấn thương mạch máu” (tức là phình mạch giả , lỗ rò động mạch ) vào tiêu chí chẩn đoán hình ảnh cho chấn thương gan độ 3 .

    Xem thêm:

    Bảng phân loại chấn thương Gan Theo AAST 2018

    Bảng phân độ chấn thương gan theo aast 2018

    Bảng phân độ chấn thương gan theo aast 2018

    Chấn thương gan Độ I

    Hình ảnh chấn thương gan độ I

    • Tụ máu: dưới bao gan, <10% diện tích bề mặt
    • Vết rách: vết rách nhu mô gan sâu <1 cm

    Chấn thương gan độ II

    Hình ảnh chấn thương gan độ II

    Hình ảnh chấn thương gan độ II

    • Tụ máu: dưới bao gan, 10-50% diện tích bề mặt
    • Tụ máu: trong nhu mô đường kính trong nhu mô <10 cm
    • Vết rách: vết rách nhu mô sâu 1-3 cm, chiều dài <10 cm

    Chấn thương gan độ III

    Hình ảnh chấn thương gan độ III

    Hình ảnh chấn thương gan độ III

    • Tụ máu: dưới bao gan, >50% diện tích bề mặt
    • Tụ máu: trong nhu mô đường kính trong nhu mô >10 cm
    • Vết rách: vết rách nhu mô sâu >3 cm,
    • Tổn thương mạch máu với chảy máu tích cực chứa trong nhu mô gan

    Chấn thương gan độ VI

    Hình ảnh chấn thương gan độ IVHình ảnh chấn thương gan độ IV

    Hình ảnh chấn thương gan độ IV

    • Đường rách: gián đoạn nhu mô liên quan đến 25-75% thùy gan hoặc liên quan đến 1-3 Phân thùy  theo Couinaud
    • Chấn thương mạch máu với chảy máu tích cực làm thủng nhu mô gan vào phúc mạc

    Chấn thương gan Độ V

    Hình ảnh chấn thương gan độ V

    Hình ảnh chấn thương gan độ V

    • Rách: gián đoạn nhu mô liên quan đến> 75% thùy gan
    • Mạch máu: chấn thương tĩnh mạch cạnh sau (tĩnh mạch chủ dưới/ tĩnh mạch gan lớn trung tâm)

    Phân độ chấn thương gan trên CT

    Phân độ chấn thương gan trên CT

    • Nâng một bậc đối với đa chấn thương lên độ III
    • “Tổn thương mạch máu” (tức là phình mạch giả hoặc lỗ rò AV) – có đường bờ rõ ràng, thường hình trong hoặc hình bầu dục, không thay đổi kích thước, tính chất tương đồng với các mạch máu qua các thì, giảm đậm độ thì muộn.
    • “chảy máu tích cực” -Tia hay vùng tăng đậm độ (±10UH so m/m kế cận) bên trong khối máu tụ; lan rộng và làm tăng đậm độ khối máu tụ /t.muộn, Đường bờ không rõ, thường có dạng tia, thì muộn tăng đậm độ và thường trải thành lớp.

    Trên đây là toàn bộ bảng phân loại chấn thương cập nhật mới nhất hiện nay. để biết thêm thông tin các kiến thức chuyên ngành, hãy truy cập Website Nguyenductinh.com chuyên mục chẩn đoán hình ảnh nhé các bạn.

  • Phân loại chấn thương thận theo AAST 2018 chi tiết và đầy đủ nhất

    Phân loại chấn thương thận theo AAST 2018 chi tiết và đầy đủ nhất

    Chấn thương thận là một trong những chấn thương hay gặp trong chấn thương bụng kín chỉ sau chấn thương gan và lách. Việc thống nhất mô tả mức độ tổn thương, chấn thương thận là một yêu cầu rất cần thiết vì sẽ giúp chuẩn hóa việc mô tả và theo dõi điều trị giữa bác sĩ chẩn đoán hình ảnh và bác sĩ Điều trị. Mời quý đồng nghiệp theo dõi bài viết được dịch Từ trang Radiology về phân loại chấn thương thận năm 2018.

    American association for the surgery of trauma  (AAST) là các hiệp Hội Mỹ cho phẫu thuật chấn thương. Bảng phân loại chấn thương thân , gần đây nhất được cập nhật vào năm 2018, là hệ thống chấm điểm sử dụng rộng rãi nhất cho chấn thương thận .Bản cập nhật năm 2018 kết hợp “chấn thương mạch máu” (tức là giả  phình mạch ,  lỗ rò động mạch ) vào tiêu chí chẩn đoán hình ảnh cho chấn thương nội tạng.

    Xem thêm:

    Phân loại chấn thương thận theo AAST 2018:

    Mức độ nghiêm trọng được đánh giá theo độ sâu của tổn thương nhu mô thận và sự tham gia của hệ thống thu gom nước tiểu và mạch thận.

    Bảng phần loại chấn thương thận 

    Hình ảnh chấn thương thân độ I :

    Tụ máu dưới bao hoặc tụ máu, không có vết rách

    Hình ảnh chấn thương thận độ I theo AAST 2018

    Hình ảnh chấn thương thận độ II :

    • Vết rách bề ngoài có độ sâu ≤1cm không liên quan đến hệ thống thu thập (không có bằng chứng về sự thoát mạch nước tiểu)
    • Tụ máu quanh thượng thận giới hạn trong cân thượng thận

    Hình ảnh chấn thương thận độ II theo AAST

    Hình ảnh chấn thương thận độ III:

    • Vết rách> 1cm không liên quan đến hệ thống thu thập (không có bằng chứng về thoát nước tiểu)
    • Chấn thương mạch máu hoặc chảy máu tích cực giới hạn trong cân gan thượng thận

    Hình ảnh chấn thương thận độ III theo AAST

    Hình ảnh chấn thương thận độ IV

    • Vết rách liên quan đến hệ thống thu thập với thoát nước tiểu
    • Rách bể thận và / hoặc vỡ hoàn toàn bể thận niệu quản.
    • Tổn thương mạch máu đối với động mạch hoặc tĩnh mạch thận ,đoạn
    • Nhồi máu phân đoạn không kèm theo chảy máu tích cực (tức là do huyết khối mạch)
    • Tích cực chảy máu kéo dài vượt ra ngoài fascia perirenal (tức là vào retroperitoneum hoặc phúc mạc )

    Hình ảnh chấn thương thận độ III theo AAST

    Hình ảnh chấn thương thận độ V

    • Thận bị vỡ, tắc mạch thận hoặc rách động mạch hoặc tĩnh mạch thận chính : thoát mạch thận do chấn thương thận
    • Thận bị thoát mạch với chảy máu tích cực

    Hình ảnh chấn thương thận độ V theo AAST

    Một số Điểm bổ sung về chấn thương thận theo AAST 2018

    • Nâng một bậc đối với đa chấn thương lên độ III
    • “Tổn thương mạch máu” (tức là phình mạch giả hoặc lỗ rò AV) – xuất hiện như một tập hợp tiêu điểm của chất cản quang mạch máu làm giảm độ đậm nhạt trên hình ảnh trễ
    • “Chảy máu tích cực” – tập hợp chất cản quang mạch máu khu trú hoặc khuếch tán, tăng kích thước hoặc suy giảm ở giai đoạn chậm

    Hình ảnh phân loại chi tiết

    Kỹ thuật hình ảnh sử dụng để đánh giá chấn thương thận theo AAST 2018

    • Các hướng dẫn AAST khuyến nghị chụp ảnh pha kép động mạch / tĩnh mạch cửa để đánh giá tổn thương mạch máu của gan, lá lách hoặc thận.
    • Nếu có hình ảnh hoặc phát hiện lâm sàng gợi ý tổn thương hệ thống thu thập (ví dụ như tiểu máu hoặc máu ở cục thịt), cần có thêm hình ảnh giai đoạn bài tiết chậm sau 5-15 phút để đánh giá sự thoát mạch của nước tiểu. Thuốc cản quang nước tiểu thường đậm đặc và dễ phân biệt với thuốc cản quang mạch máu xuất huyết.
    • Lưu ý rằng chụp nhiều pha không nên xử trí cấp cứu ngay trong trường hợp huyết động không ổn định hoặc các chấn thương đe dọa tính mạng.

    Điều trị và tiên lượng

    • Độ I : Điều trị bảo tồn
    • Độ II : Điều trị bảo tồn với sự giám sát, theo dõi chặt chẽ
    • Độ III : Điều trị bảo tồn với sự giám sát, theo dõi chặt chẽ. Có thể được quản lý bằng phẫu thuật nếu trải qua phẫu thuật mở bụng vì các chấn thương bụng khác.
    • Độ IV :  Xử trí phẫu thuật, đặc biệt nếu trải qua phẫu thuật mở bụng vì các chấn thương bụng khác
    • Độ V : Quản lý phẫu thuật

    Các biến chứng

    chấn thương thận độ IV khiến bệnh nhân có nguy cơ phát triển tăng huyết áp do giảm lưu lượng máu đến thận hoặc thứ phát do chèn ép các mạch thận , dẫn đến kích hoạt hệ thống renin-angiotensin.

    Trên đây là một số nét chính về phân loại chấn thương thận theo AAST năm 2018, nếu bạn quan tâm tới lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh, xin vui lòng truy cập trang web Nguyenductinh.com, chuyên mục Chẩn đoán hình ảnh để biết thêm thông tin. chúc bạn và gia đình luôn mạnh khỏe .

  • Kỹ thuật siêu âm tuyến giáp – Thông tin từ BS. Nguyễn Đức Tỉnh

    Kỹ thuật siêu âm tuyến giáp – Thông tin từ BS. Nguyễn Đức Tỉnh

    Siêu âm tuyến giáp là kỹ thuật sử dụng sóng âm tần số cao để ghi nhận hình ảnh của tuyến giáp ở cổ. Đây là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn cho kết quả chính xác cao vì tuyến giáp nằm ở rất gần ngay dưới da. Siêu âm tuyến giáp có thể phát hiện các bất thường về giải phẫu, bất thường hình thái, bất thường về chức năng của tuyến giáp. Kỹ thuật Siêu âm tuyến giáp được thực hiện bởi bác sĩ chẩn đoán hình ảnh có kinh nghiệm. sau đây chúng ta cùng tìm hiểu về quy trình siêu âm và cách đọc kết quả bất thường khi Siêu âm tuyến giáp.

    Tuyến giáp là gì? Nằm ở đâu, có tác dụng gì

     Trước hết chúng ta cùng tìm hiểu về tuyến giáp là cơ quan gì trong cơ thể, chúng nằm ở đâu và có vai trò gì phải không các bạn.

    Tuyến giáp ( thyroid gland) nằm ngay dưới thanh quản, nằm ở phía trước và hai bên của khi quản, thực quản, là một tuyến nội tiết lớn của cơ thể, chúng tiết ra hai hormon giáp trạng gồm Thyroxine và hormone tri-iodo-thyronine hay còn gọi là T3 và T4. Hai hormone này có tác dụng lên quá trình chuyển hóa và nhiều chức năng khác của cơ thể. Ngoài ra Tuyến giáp còn bài tiết ra Calcitonin, là hormon điều hòa chuyển hóa canxi của cơ thể.

    Tuyến giáp nằm phía trước cổ, có hình dạng như chiếc điện thoại cổ , phía trước tuyến giáp là da và tổ chức dưới da, các cơ ở vùng cổ , phía sau tuyến giáp là khí quản. Tuyến giáp gồm có 2 thùy là thùy trái và thùy phải, chúng được nối với nhau bởi eo tuyến giáp.

    Tuyến giáp được cấp máu bởi động mạch giáp trên xuất phát từ động mạch cảnh ngoài và động mạch giáp dưới xuất phát từ động mạch dưới đòn. Do là tuyến nội tiết lớn nên hệ mạch máu của tuyến giáp rất phong phú, chúng được nhìn rõ khi Siêu âm tuyến giáp ở chế độ siêu âm Doppler.

    Hình ảnh giải phẫu truyến giáp ở vùng cổ

    Hình ảnh giải phẫu truyến giáp ở vùng cổ

    Siêu âm tuyến giáp là gì?

     Như khái niệm ban đầu đã đề cập, Siêu âm tuyến giáp là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh  không xâm lấn được sử dụng để chẩn đoán các bệnh lý về tuyến giáp đồng thời là công cụ để hướng dẫn các thủ thuật can thiệp xâm lấn vào tuyến giáp Như chọc sinh thiết tuyến giáp bằng kim nhỏ ( FNA) hoặc cũng có thể được sử dụng để điều trị đốt u tuyến giáp bằng sóng siêu cao tần ( RFA)

    Kỹ thuật Siêu âm tuyến giáp như một phần của quá trình khám sức khỏe định kỳ. Siêu âm có thể cung cấp hình ảnh có độ phân giải cao của các cơ quan khác, giúp bác sĩ có thể hiểu rõ hơn về tình trạng sức khỏe của bạn.

    Các lợi ích khác của Siêu âm tuyến giáp bao gồm:

    Là một kỹ thuật không xâm lấn (không dùng kim tiêm hoặc thuốc tiêm), an toàn và không sử dụng bức xạ có độ chính xác cao Cho hình ảnh rõ ràng về cấu trúc tổ chức và các bất thường của tuyến giáp cũng như các cơ quan vùng cổ.

    Cung cấp hình ảnh thời gian thực, hữu ích trong việc hướng dẫn các thủ thuật xâm lấn tối thiểu như sinh thiết bằng kim nhỏ hay chọc hút., điều trị u giáp lành tính bằng sóng cao tần.

    Giúp chẩn đoán các bệnh lý, ung thư tuyến giáp giai đoạn sớm mà mắt thường không nhìn thấy được

    Giúp đánh giá phân loại bệnh tuyến giáp cũng như đưa ra khuyến cáo về quy trình theo dõi xử lý các nhân giáp dưới siêu âm.

    Các lợi ích của siêu âm tuyến giáp

    Các lợi ích của siêu âm tuyến giáp

    Những hạn chế của Siêu âm tuyến giáp

    Do là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh, do đó độ chính xác của thăm khám này phụ thuộc khá nhiều vào kinh nghiệm, trình độ của bác sĩ thực hiện siêu âm cũng như phụ thuốc nhiều máu độ nét của máy siêu âm khi bác sĩ sử dụng.

    Siêu âm tuyến giáp thường được sử dụng để làm gì:

    Mục đích Siêu âm tuyến giáp

    • Siêu âm tuyến giáp để xác định một cấu trúc to  bất thường ở vùng cổ thuộc tuyến giáp hay nằm ở cơ quan lân cận.
    • Phát hiện các tổn thương không nhìn thấy bằng mắt thường: phát hiện các tổn thương khu trú tại tuyến giáp như nang, các u bướu lành tính, các khối ung thư tuyến giáp giai đoạn sớm….
    • Phân loại tổn thương tuyến giáp là lành hay ác tính để định hướng cho việc xử lý tiếp theo.
    • Theo dõi đánh giá kích thước khối u tuyến giáp, theo dõi sau mổ bướu giáp và đánh giá sự tái phát hoặc di căn.
    • Sử dụng để phát hiện các hạch di căn vùng cổ
    • Ngoài ra Siêu âm tuyến giáp còn sử dụng để hỗ trợ các thủ thuật can thiệp xâm lấn như FNA, Đốt u giáp lành tính bằng sóng cao tần không cần phẫu thuật.

    Chỉ định trong Siêu âm tuyến giáp

    Việc tầm soát định kỳ để có thể phát hiện bệnh sớm và điều trị kịp thời cần phải được thực hiện với các đối tượng có nguy cơ cao:

    • Phụ nữ từ sau độ tuổi 30 cần tầm soát ung thư tuyến giáp theo định kỳ đầy đủ và thường xuyên.
    • Người có chế độ ăn uống thiếu i-ốt, người sống ở vùng núi cao
    • Người bị khàn tiếng, đau họng, thay đổi giọng nói đột ngột không rõ nguyên nhân
    • Người có người thân trong gia đình mắc bệnh về tuyến giáp như ung thư biểu mô tuyến giáp…
    • Người có những dấu hiệu nghi ngờ ung thư tuyến giáp như hạch/u ở cổ, khó nuốt, khó thở…
    • Người bị phơi nhiễm các chất phóng xạ, chất độc hóa học ở mức cao.

    Ngoài ra, bạn cũng cần chủ động thực hiện Siêu âm tuyến giáp khi cơ thể có các biểu hiện sau:

    • Ngón tay run rẩy, trạng thái kích thích, căng thẳng… dấu hiệu của tăng chức năng tuyến giáp
    • Khả năng tập trung kém, rối loạn tri giác: nồng độ hormon tuyến giáp gia tăng (cường giáp) hay giảm (suy giáp) có thể làm ảnh hưởng đến chức năng thần kinh. Nếu suy giáp khiến người bệnh thường cảm thấy buồn rầu và chán nản thì cường giáp có thể dẫn đến kém tập trung.
    • Rối loạn kinh nguyệt: suy giáp thường đi kèm biểu hiện rong kinh còn cường giáp lại được đặc trưng bởi tình trạng thiếu kinh.
    • Tăng cân: Tình trạng này xảy ra là do chức năng tuyến giáp hoạt động kém, gây trì hoãn quá trình chuyển hóa và trao đổi chất.
    • Cholesterol cao trong máu có thể xảy ra ở những người bị suy giáp
    • Cơ thể phù nề, xuất hiện tình trạng giữ nước
    • Nhịp tim tăng nhanh, cảm giác hồi hộp có thể là biểu hiện của cường giáp

    Quy trình Siêu âm tuyến giáp

    1.  Chuẩn bị trước khi siêu âm

    Đây là kỹ thuật không xâm lấn, bạn không cần chuẩn bị gì đặc biệt và có thể siêu âm ở bất cứ thời điểm nào trong ngày mà không cần nhịn ăn uống.

    2. Tiến hành Siêu âm tuyến giáp

    Bạn nằm ngửa trên bàn khám, bộc lộ rõ vùng cổ, có thể kê gối ở phía dưới để bộc lộ tốt hơn.

    Bác sĩ thoa một lớp gel lên vùng cần kiểm tra và đặt đầu dò tại vị trí đó. Gel cho phép sóng âm truyền qua lại giữa đầu dò và khu vực được kiểm tra.

    Hình ảnh siêu âm được hiển thị trên màn hình. Bác sĩ sẽ căn cứ vào các đặc điểm hình ảnh chuyên môn mà có những mô tả, chẩn đoán và kết luận. kết quả sẽ được ghi vào biên bản kết quả, sau đó sẽ được trả lại cho bạn sau khoảng 5-10 phút.

    3.      Đọc kết quả

    Bảng phân loại TIRADS năm 2019

    Bảng phân loại TIRADS năm 2019

    Giá Siêu âm tuyến giáp là bao nhiêu?

    Siêu âm tuyến giáp có mức giá thông thường khoảng 200- 300k . Tuy nhiên, Giá dịch vụ này sẽ khác nhau phụ thuộc vào chất lượng cơ sở vật chất, nếu sử dụng các thiết bị hiện đại thì giá sẽ cao hơn. Đồng thời giá Siêu âm tuyến giáp cũng khác nhau giữa bệnh viện công và bệnh viện tư nhân. Các bệnh viện công lập giá sẽ rẻ hơn các phòng khám hay bệnh viện tư nhân.

    Siêu âm tuyến giáp ở đâu?

    Siêu âm tuyến giáp được thực hiện tại phòng siêu âm chẩn đoán. Phòng siêu âm thường thuộc khoa chẩn đoán hình ảnh, được thực hiện bởi bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh được đào tạo bài bản về Siêu âm tuyến giáp. Bạn có thể liên hệ Siêu âm tuyến giáp tại phòng khám siêu âm của bác sĩ Nguyễn Đức Tỉnh, là bác sĩ có kinh nghiệm nhiều năm trong lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh. Đồng thời tại phòng khám bác sĩ sử dụng hệ thống máy móc hiện đại. đặc biệt bác sĩ là người được đào tạo bài bản về đốt u tuyến giáp lành tính bằng sóng cao tần RFA dưới hướng dẫn của siêu âm, là một kĩ thuật can thiệp tối thiểu có thể hủy toàn bộ u tuyến giáp mà không cần phẫu thuật, không cần nằm viện, bệnh nhân có thể đi về ngay trong ngày. Đây là kỹ thuật mới có tỷ lệ biến chứng rất thấp.

    Siêu âm tuyến giáp có đau không? Có ảnh hưởng gì tới sức khỏe không?

    Hầu hết các kỹ thuật kiểm tra siêu âm không đau, nhanh chóng và dễ dàng. Quá trình Siêu âm tuyến giáp thường diễn ra trong khoảng 10-15 phút. Sóng siêu âm hoàn toàn không gây hại gì đáng kể cho bạn. Không giống như sử dụng chuoj Xquang, Siêu âm tuyến giáp hoàn toàn vô hại và được lặp đi nhiều lần tùy theo mục đích thăm khám hay theo dõi tiến triển của bệnh

    Tuyến giáp là một cơ quan có nhiều bệnh lý, đặc biệt đối với nữ giới và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, vì vậy tầm soát và kiểm tra định kỳ bao gồm vùng tuyến giáp là điều cần thiết. Siêu âm tuyến giáp là một trong những cách thăm khám phổ biến nhất để theo dõi tình trạng sức khỏe.

     Bạn cần làm gì sau khi Siêu âm tuyến giáp

    Việc xử lý tiếp theo sau khi Siêu âm tuyến giáp phụ thuộc vào kết quả siêu âm.

    • Nếu kết quả bình thường hoặc các tổn thương lành tính không nguy hiểm thì bạn chỉ cần siêu âm kiểm tra một năm một lần là được.
    • Nếu kết quả siêu âm có tổn thương lớn hoặc nghi ngờ tổn thương ác tính, thì bạn cần được tiếp tục làm các xét nghiệm xâm lấn khác như sinh thiết tuyến giáp bằng kim nhỏ ( FNA) hoặc sinh thiết lõi để chẩn đoán giải phẫu bệnh.
    • Nếu siêu âm phát hiện các tổn thương lớn lành tính như nang giáp lớn, Nhân giáp lớn trên 2cm thì bạn nên cân nhắc điều trị sớm để tránh ảnh hưởng tới chức năng cũng như thẩm mỹ của bạn. Bạn có thể tìm hiểu về cách đốt hủy u tuyến giáp lành tính bằng sóng cao tần ( RFA) được thực hiện bởi bác sĩ Nguyễn Đức Tỉnh tại đây:

    Kết luận: Siêu âm tuyến giáp là thủ thuật nhanh gọn, không gây đau đớn và có thể giúp phát hiện ra nhiều vấn đề sức khỏe ở giai đoạn sớm. Chúng ta nên khám và theo dõi định kỳ để phát hiện tình trạng bệnh lý để kịp thời khắc phục, đảm bảo sức khỏe cho chính bản thân và gia đình.

    Nếu bạn có bất cứ thắc mắc nào về dịch vụ siêu âm tuyến giáp bạn có thể liên hệ với BS. Nguyễn Đức Tỉnh đang công tác tại Khoa Chẩn đoán Hình ảnh – Bệnh viện Quân đội 175,  một chuyển gia trong lĩnh vực chẩn đoán và  điều trị u tuyến giáp, u vú, ung thư tuyến giáp bằng phương pháp RFA.

    Hiện nay, phòng khám của bác sĩ Nguyễn Đức Tỉnh hợp tác và hoạt động tại hai địa chỉ chính:

    • TP. HCM: Bệnh viện Quân đội 175 – 786 Nguyễn Kiệm, Phường 3, Gò Vấp.
    • Hà Nội: Bệnh viện Hồng Phát – 219 Lê Duẩn, Nguyễn Du, Hai Bà Trưng.

    Thông tin liên hệ:

    • Email: [email protected]
    • Hotline/Zalo: 0976958582
    • Website: https://nguyenductinh.com/
  • Hình ảnh CT, MRI các loại phù não đầy đủ, chi tiết nhất

    Hình ảnh CT, MRI các loại phù não đầy đủ, chi tiết nhất

    Bài Viết này thảo luận về sinh lý bệnh và biểu hiện hình ảnh của phù não hoặc gia tăng hàm lượng nước trong nhu mô não. Phù là phản ứng thông thường đối với các điều kiện khác nhau của tổn thương não, và các nguyên nhân có thể được phân thành các loại phù não là phù độc tế bào, phù vận mạch, Phù mô kẽ, hoặc có thể là kết hợp của các dạng phù. việc kết hợp với các phát hiện hình ảnh học và tiền sử lâm sàng sẽ cho kết quả chẩn đoán chính xác hơn. sau đây mời quý đồng nghiệp theo dõi bài viết

    Các Loại Phù Não và Nguyên Nhân Liên Quan

    Loại Phù Nguyên Nhân Chính Đặc Điểm Hình Ảnh
    Phù độc tế bào Nhồi máu động mạch, bệnh lý mạch máu nhỏ Hạn chế khuếch tán trên DWI, tăng T2/FLAIR
    Phù vận mạch Khối u, xuất huyết, huyết khối tĩnh mạch Tăng tín hiệu T2, không hạn chế khuếch tán
    Phù kẽ Tràn dịch não, tăng áp lực nội sọ Tăng tín hiệu quanh não thất trên FLAIR
    Phù kết hợp Chấn thương, thiếu oxy-thiếu máu cục bộ Phù lan tỏa, mất phân biệt xám-trắng

    Phù não do Phù độc tế bào Cytotoxic Edema 

    Phù độc tế bào là kết quả sự rối loạn của adenosin triphosphat (ATP) qua màng tế bào dựa vào bơm Natri – Kali và bơm Calci, và thường do thiếu máu não cục bộ hoặc tổn thương não kích độc thần kinh (thứ phát do kích thích dẫn truyền thần kinh quá mức). Điều này dẫn đến tích tụ dịch nội bào trong tế bào thần kinh, tế bào thần kinh đệm, các sợi trục, và bao myelin. Chất xám bị ảnh hưởng đầu tiên do hoạt động trao đổi chất cao và mật độ tế bào hình sao lớn hơn. Cuối cùng, cả chất xám và chất trắng đều bị ảnh hưởng, với mất phân biệt chất xám chất trắng tương ứng trên CT.

    Có sự hạn chế khuếch tán toàn bộ của các phân tử nước qua màng tế bào và bên trong nguyên sinh chất chất dẫn đến vùng tăng tín hiệu trên DWI và giảm tín hiệu trên ADC. Ban đầu, hàng rào máu – não vẫn còn nguyên vẹn và nước ngoài tế bào không tăng, mang lại sự bình thường trên bản đồ DTI và phân số bất đẳng hướng. Tổn thương nghiêm trọng hoặc lặp đi lặp lại lấn át bơm ion màng tế bào, dẫn đến chết tế bào với sự phá vỡ hàng rào máu – não và kết quả là phù vận mạch. Các biến chứng muộn bao gồm sự chết tế bào thần kinh, teo và thần kinh đệm hóa.

    Phù độc tế bào do nhồi máu động mạch Arterial Infarction

    Nhồi máu động mạch cấp gây ra tình trạng thiếu oxy với sự suy giảm nhanh ATP thứ phát dẫn đến khử cực, viêm, tổn hại quá trình oxy hóa hoặc nito hóa, và chết tế bào. Phù độc tế bào tiến triển trong vòng 30 phút tắc nghẽn động mạch, đỉnh điểm giữa 24 và 72 giờ sau khi nhồi máu, và kéo dài đến 24 giờ sau khi tái tưới máu. Trên CT, sự mất phân biệt giữa chất xám và chất trắng tương ứng với sự phân bố của mạch máu. Các dấu hiệu sớm của nhồi máu động mạch não giữa bao gồm dấu hiệu xóa mờ của nhân đậu (Hình 1A) và mất ruy băng thùy đảo (Hình 1B); những vùng có độ tương phản cao của chất xám – chất trắng được cung cấp máu bởi các nhánh xuyên nhỏ. Huyết khối trong mạch máu lớn cũng có thể biểu hiện với tăng tỷ trọng trên hình scans không có thuốc cản quang (dấu hiệu tăng đậm độ động mạch) (Hình 1C). Phù tiến triển dẫn đến sự gia thể tích khối toàn bộ, biểu hiện bằng sự xóa bỏ rãnh cuộn não, não thất và các bể não.

    Đánh giá sơ bộ ban đầu đột quỵ cấp với CT không tiêm thuốc, cho thấy vùng phù khu trú, xuất huyết và hiệu ứng khối. Nếu kết quả hình ảnh hoặc lâm sàng gợi ý đột quỵ cấp, có thể đánh giá thêm bằng việc chụp CTA có thuốc tương phản hoặc chụp MRA với chuỗi xung TOF. Các phương pháp này tạo ra các hình ảnh tái tạo đa mặt phẳng và tái tạo thể tích khối của tuần hoàn trong sọ, rất hữu ích cho việc mô tả các bất thường mạch máu, bao gồm sự tắc, co thắt, đứt, phình, và các biến thể giải phẫu (Hình 2).

    Hình 1 – Nhồi máu động mạch não giữa (MCA)

    Hình 1 – Nhồi máu động mạch não giữa (MCA)

    Hình 2 – CTA của nhồi máu

    Hình 2 – CTA của nhồi máu

    MRI cũng có thể được sử dụng trong thiết lập chẩn đoán đột quỵ cấp, mặc dù các yêu cầu kỹ thuật và nhân sự hạn chế áp dụng ở nhiều trung tâm. DWI là chuỗi xung nhạy nhất để phát hiện nhồi máu cấp tính (<30 phút sau khi biểu hiện triệu chứng), trước khi nhận ra sự thay đổi trên CT (6 giờ) và hình ảnh T2W (6-12 giờ). Sự hạn chế khuếch tán trong các trường hợp nhồi máu cấp tương ứng với các vùng tăng và giảm tín hiệu trên DWI và bản đồ ADC tương ứng. Khi nhồi máu tiến triển tới các giai đoạn bán cấp và mạn, sẽ có tiến tới phù vận mạch và khuyết não. Điều này được phản ánh bởi tăng dần tín hiệu trên T2/FLAIR, với kèm theo bình thường hoá của sự khuếch tán (Hình 3A, 3B, và3C)

    Hình 3 – Hình ảnh MRI của bệnh nhân nhồi máu với bệnh não

    Hình 3 – Hình ảnh MRI của bệnh nhân nhồi máu với bệnh não

    Kỹ thuật TOF MRA không dùng thuốc tương phản hoặc kỹ thuật đánh dấu spin động mạch cũng có thể được thực hiện. Tuy nhiên, độ phân giải không gian thấp hơn so với CT, và hình ảnh dễ bị các ảnh giả do chuyển động, chất nhạy từ và dòng chảy. Các phương thức bổ sung để định lượng lưu lượng máu trong não bao gồm SPECT và Xenon CT. Trong SPECT, HMPAO (hexamethylpropylene amine oxime) gắn 99mTc được bắt giữ bởi mô não có độ tập trung tỉ lệ với lưu lượng máu. Xenon CT sử dụng khí xenon, là chất thấu quang và tan trong dầu. Sau khi hòa tan vào máu, nó có thể đi qua hàng rào máu não vào trong nhu mô não. Hình ảnh được chụp trước, trong và sau khi hít vào.

    Chụp mạch não được coi là tiêu chuẩn tham chiếu để đánh giá tuần hoàn não. Tuy nhiên, nó là một thủ tục xâm lấn với các nguy cơ liên quan, và quan trọng nhất, sự nghẽn mạch não. Tuy nhiên, chụp mạch não là tiêu chuẩn cần thiết cho những bệnh nhân cần can thiệp, chẳng hạn như tan huyết khối và cắt bỏ cục nghẽn trong động mạch, nong mạch hoặc đặt stent, và đặt clip hoặc coil trong phình động mạch hoặc dị dạng động tĩnh mạch (AVM)

    Hình 4 – Chụp mạch của nhồi máu ở cùng một bệnh nhân như trong 

    Hình 4 – Chụp mạch của nhồi máu ở cùng một bệnh nhân như trong 

    Tiên lượng đột quỵ phụ thuộc vào tuổi bệnh nhân, thời gian của triệu chứng, nguyên nhân và mức độ nghiêm trọng của tắc nghẽn, vùng mạch máu bị ảnh hưởng và sự hiện diện của các đường tuần hoàn bên. Trong 3 giờ đầu sau khi xuất hiện triệu chứng, đột quỵ do thiếu máu cục bộ không xuất huyết được điều trị bằng thuốc kích hoạt hệ thống plasminogen mô (tPA) đường tĩnh mạch. Sau thời gian này, tPA tĩnh mạch không còn hiệu quả. Trong vòng 6 giờ, tPA trong động mạch có thể được cung cấp trực tiếp trong quá trình chụp mạch. Các thiết bị cơ học, chẳng hạn như MERCI retriever (Thiết bị loại bỏ vật tắc trong thiếu máu não cục bộ, Concentric Medical), có thể được sử dụng bổ sung để lấy bỏ huyết khối. Các thuốc chống kết tập tiểu cầu, chẳng hạn như clopidogrel (Plavix, Sanofi-Aventis) và aspirin, giảm sự phá hủy nhu mô tối đa và giảm nguy cơ đột quỵ về sau

    Phù độc tế bào do Bệnh lý mạch máu nhỏ Small Vessel Disease 

    Các nhánh mạch xuyên nhỏ từ đa giác Willis và sống nền cấp máu cho hạch nền, chất trắng sâu, tiểu não và cuống não. Tăng huyết áp và xơ vữa động mạch dẫn tới tổn thương cho các động mạch tận xuyên, dẫn đến nhồi máu lỗ khuyết hoặc xuất huyết. Tuổi càng lớn, thương tổn do phóng xạ, viêm não màng não, viêm mạch máu, và rối loạn tự miễn là những yếu tố nguy cơ thêm vào.

    Bệnh mạch máu dạng bột là một dạng đặc biệt của bệnh vi mạch, trong đó β-amyloid peptide tích tụ trong các thành mạch, dẫn đến đột quỵ xuất huyết đa ổ và dạng thùy. Tùy thuộc vào khu vực bị ảnh hưởng, biểu hiện lâm sàng có thể âm thầm hoặc bao gồm một vài phức hợp của các triệu chứng vận động, cảm giác, và giảm hoặc mất điều hòa vận động. Theo thời gian có thể là cấp tính, mạn tính, hoặc thay đổi. Nếu có sự tham gia đáng kể của chất trắng, bệnh não dưới vỏ (bệnh Binswanger) có thể phát triển, với sự suy giảm các chức năng điều hòa. Dấu hiệu vỏ não thật, bao gồm mất trí nhớ và chứng mất ngôn ngữ, là không hiện diện.

    Trên CT, bệnh mạch máu nhỏ thiếu máu cục bộ biểu hiện dưới dạng nhiều ổ giảm tỷ trọng chất trắng dưới vỏ và chất trắng quanh não thất ở vùng tận cùng của động mạch nhỏ xuyên tận. Các ổ giảm tỷ trọng cũng có thể nhìn thấy ở các hạch nền và các vùng trên lều (Hình 5A). Xuất huyết tự phát, thường gặp ở bệnh nhân tăng huyết áp, thường ở vị trí hạch nền hoặc đồi thị. Khi có nhiễm trùng hoặc bệnh tim bẩm sinh, huyết khối rơi ra cũng có thể tạo ra nhồi máu ở ranh giới giữa các mạch máu. MRI cho thấy tăng tín hiệu trên T2/FLAIR ở các vùng thiếu máu (Hình 5B). Hạn chế khuếch tán hiện diện trong giai đoạn cấp tính nhưng bình thường hóa ở giai đoạn bán cấp và mạn tính

    Hình 5 - Bệnh mạch máu nhỏ thiếu máu cục bộ

    Hình 5 – Bệnh mạch máu nhỏ thiếu máu cục bộ

    Các nguyên nhân khác của bệnh lý mạch máu nhỏ thể hiện sự phân bố khác nhau của não liên quan. Trong bệnh mạch máu dạng bột, đột quỵ xuất huyết nhiều ổ và dạng thùy là phổ biến. Hình ảnh chuỗi xung GRE / nhạy từ rất hữu ích cho việc phát hiện các ổ vi xuất huyết kín đáo (Hình 6A, 6B, và 6C).

    Hình 6 - Bệnh mạch máu dạng bột. A,

    Hình 6 – Bệnh mạch máu dạng bột. A

    Hình ảnh CT không tiêm thuốc nhận ra vùng tăng tỷ trọng của xuất huyết cấp (dấu hoa thị) tập trung ở hạch nền bên phải, gợi ý nguyên nhân tăng huyết áp. Khối máu tụ được bao quanh bởi viền mỏng của phù vận mạch và kéo dài tới sừng trán phải. Các ổ của nhũn não mạn được ghi nhận ở cả hai thùy trán (mũi tên). B, Hình ảnh MRI T2W cho thấy hiện tượng cảm ứng từ ở vùng xuất huyết (dấu hoa thị), với tăng tín hiệu vùng phù xung quanh. Cũng có lớp xuất huyết ở sừng chẩm hai bên (mũi tên). C, Hình ảnh MRI GRE T2* một lần nữa cho thấy xuất huyết cấp ở sừng trán phải (dấu hoa thị). Có nhiều ổ của sự cảm ứng từ trong nhu mô não và rãnh cuộn não (mũi tên trắng), nghĩa là xuất huyết vi thể mạn tính và nhiễm sắt ở bề mặt. Có ổ nhũn não khu trú ở thùy trán phải (mũi tên màu đen), tương ứng với những phát hiện trên CT.

    Phù não do Phù vận mạch Vasogenic Edema

    Phù vận mạch là do sự phá hủy của các vị trí nối sát nhau của lớp nội mô gồm có hàng rào máunão, thứ phát sau sự phá vỡ cơ học hoặc giải phóng các hợp chất hoạt mạch. Kết quả là, các protein trong máu và dịch tiết đi vào khoang ngoại bào. Tăng lượng dịch ngoại bào làm giảm tín hiệu trên T1, tăng tín hiệu trên T2 và giảm phân số dị hướng. Chất trắng bị ảnh hưởng chủ yếu vì nó có mật độ thấp hơn với nhiều dải sợi trục song song không kết nối với nhau.

    Trong giai đoạn đầu, phù vận mạch có thể đảo ngược với sự hồi phục của hàng rào máu não. Dịch dư thừa có thể được hấp thu qua dòng lưu thông dịch não tủy và qua hệ thống bạch mạch, và protein ngoại bào được hấp thu bởi đại thực bào hoặc vận chuyển trở lại vào tế bào thông qua các chất mang màng tế bào. Tuy nhiên, tổn thương mạn tính hoặc tái phát thường gây ra sự hủy hoại myelin không thể phục hồi. Ngoài ra, hiệu ứng khối từ phù nề có thể giảm áp lực tưới máu não, dẫn đến thiếu máu cục bộ và phù độc tế bào.

    Phù vận mạch do Khối u 

    Cả khối u lành tính và ác tính đều có liên quan đến phù vận mạch, kết quả do sự hình thành khối u với phá vỡ hàng rào máu-não. Các tổn thương ung thư có thể nguyên phát hoặc thứ phát, đơn hoặc đa ổ, và sự biểu hiện hình ảnh của chúng khác nhau tùy mô học bên dưới. Trên CT, phù vận mạch xuất hiện như là vùng giảm tỷ trọng giới hạn bởi chất trắng. Do sự tương phản mô mềm thấp, độ tin cậy của các tổn thương thường đặc trưng không đầy đủ nhưng có thể cho thấy các vùng trọng yếu của xuất huyết, vôi hóa hoặc hoại tử. MRI thường được chỉ định để xác định đặc điểm khối u và nên bao gồm các chuỗi xung T1W trước và sau tiêm thuốc tương phản, T2W, FLAIR, GRE/SWI, DWI, ADC và DTI.

    Có hai loại phù vận mạch riêng rẽ quanh khối u đã được mô tả. Loại 1 được nhìn thấy trực tiếp ở vùng lân cận của các khối u có grade thấp và các khối u không phải thần kinh đệm, chẳng hạn như u màng não và di căn. Loại này được cho là thứ cấp với sự chèn ép nhu mô, với thiếu máu cục bộ thứ cấp và hoại tử vẫn còn tồn tại ngay cả sau khi cắt bỏ khối u (Hình 7AB).

    Hình 7A B – Phù vận mạch ở khối u A

    Hình 7A B – Phù vận mạch ở khối u A

    Ở bệnh nhân với phù nề loại 1 có liên quan đến di căn u hắc tố nội sọ, hình ảnh T1W có thuốc tương phản cho thấy sự ngấm thuốc của các khối u (mũi tên) ở thùy trán phải và thùy đỉnh trái. B, Chuỗi xung FLAIR ở cùng một bệnh nhân ở hình A cho thấy phù nề xung quanh có bờ rõ và giới hạn kế cận các khối u (mũi tên).

    Loại 2 xảy ra với khối u thần kinh đệm grade cao, có tính xâm nhập cao và gây thêm sự xáo trộn của hàng rào máu não. Hình thái phù này lan rộng khắp bán cầu não cùng bên, với hình dung tựa như ngón tay phản ánh khối u vi xâm nhập (Hình 7CD). Sau khi cắt bỏ, có thể có một phần hoặc toàn bộ phù nề được giải quyết trong vòng vài tháng. So với phù loại 1, có sự khuếch tán tăng thêm trên DWI và giảm phân số dị hướng trên DTI, có thể phản ánh sự phá huỷ nhu mô nhiều hơn bởi sự thâm nhiễm tế bào ác tính. Khi nhìn thấy trong khối u nhỏ hoặc lành tính, dạng không điển hình này của phù nề là rất đáng nghi ngờ cho sự thoái hóa ác tính.

    Phù vận mạch Xuất huyết nhu mô não Hemorrhage

    Phù vận mạch thường được nhìn thấy ở một vùng rộng kế cận của xuất huyết nội sọ thứ phát do tăng huyết áp, chấn thương, rối loạn đông máu, bệnh mạch máu dạng bột, bất thường mạch máu, đột quỵ và di căn. Cơ chế này được cho là liên quan đến sự giải phóng protein huyết thanh trong quá trình hình thành cục máu đông, dẫn đến viêm quanh khối máu tụ và sự phá vỡ hàng rào máu não. Phù biểu hiện giảm tỷ trọng xung quanh trên CT và tăng tín hiệu trên hình ảnh MRI T2/FLAIR. Đôi khi, nó có thể gây ra hiệu ứng khối lên tới hai lần thể tích khối tổn thương ban đầu (Hình 6A, 6B, và 6C). Điều trị nội khoa có thể được thực hiện để giảm áp lực nội sọ. Sự đe dọa thoát vị có thể đòi hỏi phải phẫu thuật dẫn lưu và mở sọ giải ép

    Hình 7C D - Phù vận mạch ở khối u C

    Hình 7C D – Phù vận mạch ở khối u C

    Ở bệnh nhân với phù loại 2 ở khối u thần kinh đệm đa hình, hình ảnh T1W có thuốc tương phản cho thấy nhiều ổ ngấm thuốc (mũi tên) ở thùy chẩm trái. D, Chuỗi xung FLAIR ở cùng một bệnh nhân ở hình C cho thấy có phù thâm nhiễm lan tỏa (mũi tên), phản ánh khối u vi xâm nhập. Có phần mở rộng băng qua đường giữa thông qua lồi của thể chai (dấu hoa thị), đặc trưng của GBM.

    Liệu pháp phẫu thuật dứt điểm bao gồm cắt bỏ hoàn toàn, có thể bổ sung với hóa trị và xạ trị. Corticosteroid được sử dụng để giảm bớt phù vận mạch có lẽ tác dụng bằng cách ức chế các yếu tố tạo mạch khối u như yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu. Các tác nhân phân tử thử nghiệm khác đã được sử dụng để nhắm đến sự tăng trưởng tế bào, xâm lấn, di trú và hủy hoại tế bào khối u.

    Phù vận mạch do  Huyết khối tĩnh mạch nội sọ Venous Thrombosis

    Huyết khối tĩnh mạch não là một dạng nhồi máu hiếm gặp, trong đó có sự tắc nghẽn dòng chảy ra tĩnh mạch, dẫn đến sung huyết nhu mô và phá vỡ sự bình thường của hàng rào máu não. Các yếu tố nguy cơ bao gồm chấn thương, các điều kiện tạo huyết khối (mất nước, mang thai, ung thư, thuốc men, tăng đông máu) và viêm mạn tính hoặc nhiễm trùng. Bệnh nhân có thể biểu hiện với nhức đầu, thay đổi thị lực và động kinh. Các triệu chứng giống đột quỵ cũng có thể xảy ra nhưng là thường ít biểu hiện hơn và chức năng não nghèo nàn so với bệnh lý động mạch

    Trên CT không tiêm thuốc, cục máu đông tăng tỷ trọng bị mắc trong tĩnh mạch có thể có thể tạo ra dấu hiệu dây thừng. Phù vận mạch bao quanh là không được giới hạn với phân bố động mạch điển hình (Hình 8A). Xuất huyết chuyển dạng là phổ biến và biểu hiện không đồng nhất và dạng vân. Kỹ thuật chụp CT tĩnh mạch xác nhận sự có mặt của các khiếm khuyết, với dấu delta trống cổ điển được tạo ra bởi huyết khối trong xoang tĩnh mạch dọc trên. MRI tĩnh mạch cũng có thể được sử dụng để đánh giá huyết khối tĩnh mạch não. Tuy nhiên, vì các ảnh giả liên quan đến dòng chảy T2 là phổ biến, cho nên chuỗi xung T1W nên được thực hiện để xác định sự thay đổi tín hiệu trong vùng nghi ngờ huyết khối (Hình 8B).

    Hình 8 – Huyết khối tĩnh mạch não. A, Hình ảnh CT không tiêm thuốc biểu hiện dấu hiệu dây thừng của huyết khối tăng tỷ trọng trong xoang tĩnh mạch ngang và sigma bên trái (mũi tên). Có phù vận mạch kín đáo kế cận (dấu hoa thị). B, Hình ảnh quay tái tạo MIP của MRI tĩnh mạch cho rõ sự giảm đậm độ của xoang ngang và sigma bên trái (mũi tên). Tín hiệu bất thường biểu hiện của huyết khối đã được khẳng định trên hình ảnh T1W.

    Điều trị huyết khối tĩnh mạch não bao gồm thuốc chống đông; trong những trường hợp hiếm hoi, tan huyết khối hệ thống hoặc chụp mạch có thể được yêu cầu. Thậm chí trong trường hợp chuyển hóa xuất huyết, các lợi ích tiềm tàng của thuốc chống đông hầu như luôn lớn hơn các nguy cơ. Nếu không điều trị, áp lực tưới máu tăng dần, máu sẽ bị chảy ngược trở lại vào hệ thống động mạch, dẫn đến nhồi máu động mạch kèm theo phù độc tế bào. Các trường hợp nghiêm trọng có thể cần phải dẫn lưu não thất hoặc phẫu thuật giải ép để ngăn ngừa thoát vị gây tử vong.

    Phù vận mạch do Thông động tĩnh mạch Arteriovenous Shunts 

    Các thông động tĩnh mạch có thể được phân loại như dị dạng động tĩnh mạch (AVMs) hoặc dò động tĩnh mạch (AVFs). Những tổn thương này được đặc trưng bởi sự kết nối bất thường giữa hệ thống động mạch và tĩnh mạch não. AVMs là dị dạng bẩm sinh đặc trưng bởi sự xen vào giữa của một giường mao mạch hoặc ổ trung tâm. Ngược lại, AVFs có sự nối thông trực tiếp động tĩnh mạch và thường mắc phải hơn là bẩm sinh. Điều này có thể xảy ra thứ phát sau huyết khối tĩnh mạch và tắc nghẽn do chấn thương, nhiễm trùng, tình trạng tăng đông máu, ung thư hoặc bệnh mạch máu.

    Cơ chế phù não ở các shunt AV được hiểu không đầy đủ. Các nguyên nhân tiềm ẩn bao gồm hư hỏng tĩnh mạch dẫn lưu, hiện tượng cắp máu động mạch, và vỡ mạch xuất huyết. Tăng huyết áp tĩnh mạch có thể được gây ra bởi thay đổi huyết động, huyết khối, hiệu ứng khối, hoặc chứng úng thủy. Áp lực tĩnh mạch cao dẫn đến tắc nghẽn dòng chảy ra, phù nề, và sau cùng là thiếu máu cục bộ. Trên CT không tiêm thuốc, các dị dạng động tĩnh mạch có thể được nhìn thấy như các khối tăng tỷ trọng dạng thùy với sự vôi hóa tĩnh mạch bên trong. CT, MRI, hoặc chụp mạch quy ước cho thấy một mớ hỗn độn vằn vèo của mạch máu với các ổ trung tâm kết nối các động mạch nuôi và các tĩnh mạch dẫn lưu (Hình 9A, và 9B).

    Hình 9 – Dị dạng động tĩnh mạch (AVM). A

    Hình 9 – Dị dạng động tĩnh mạch (AVM). A

    Hình ảnh CT không tiêm thuốc cho thấy tổn thương tăng tỷ trọng dạng thùy với vôi hóa tĩnh mạch bên trong (mũi tên). Lưu ý phù vận mạch nhẹ (dấu hoa thị). B, Hình ảnh CTA cho thấy AVM bao gồm toàn thể bán cầu não trái, với ổ bệnh ở thùy trán trái

    AVFs được đặc trưng bởi các thông nối trực tiếp giữa các động mạch não, màng cứng, hoặc màng mềm và các tĩnh mạch. Trên MRI, các dị dạng có dòng chảy chậm biểu hiện tăng tín hiệu trên T2W (chất lỏng), trái lại các dị dạng và dò thông có dòng chảy nhanh tạo ra tín hiệu trống trên T2W (ảnh giả do dòng chảy) (Hình 10A, 10B, và 10C). Mặc dù dạng chủ yếu là phù vận mạch, các tổn thương có ý nghĩa huyết động có thể gây thiếu máu cục bộ kèm theo phù độc tế bào. Hầu hết AVMs có thể được quản lý theo dõi. Tuy nhiên, AVFs và AVMs lớn cần được can thiệp vì có ảnh hưởng huyết động đáng kể. Nút mạch bằng catheter hoặc phẫu thuật cắt bỏ có thể được thực hiện, tùy thuộc vào kích thước, vị trí tổn thương và dạng tĩnh mạch dẫn lưu.

    Hình 10 – Thông động tĩnh mạch màng cứng A

    Hình 10 – Thông động tĩnh mạch màng cứng A

    Hình ảnh CT không tiêm thuốc cho thấy rõ phù vận mạch ở thùy thái dương trái, với các vùng bảo tồn ở giữa (mũi tên). B, Hình ảnh MRI T2W cho thấy tăng tín hiệu tương ứng với phù. Nhiều lỗ trống của dòng chảy vằn vèo bên trong được ghi nhận, với giãn các tĩnh mạch quanh tủy (mũi tên mỏng màu trắng), qua vỏ não (mũi tên màu đen), và vỏ não (mũi tên dày màu trắng). C, Hình ảnh MRI T1W có thuốc tương phản cho thấy ngấm thuốc mạnh của phức hợp động tĩnh mạch màng cứng

    Phù não do Phù kẽ Interstitial Edema

    Phù kẽ (tràn dịch não) xảy ra khi áp lực tăng trong não thất, gây phá vỡ lớp màng não thất. Điều này cho phép sự di chuyển xuyên qua màng nội tủy của CSF vào khoang ngoại bào, phổ biến nhất là chất trắng xung quanh não thất. Thành phần dịch giống hệt CSF, có nồng độ ion tương tự và mức độ protein không đáng kể (ngược với phù vận mạch). Các nguyên nhân khác nhau của phù kẽ bao gồm khối chèn ép, viêm màng não, xuất huyết dưới nhện và tràn dịch não áp lực bình thường. Trái lại, ependymitis granularis đề cập đến các vùng hình tam giác nhỏ có tín hiệu bất thường vòng quanh phía trước bên sừng trán não thất (Hình 11). Biến thể giải phẫu thông thường này là kết quả từ vùng giảm myelin, tăng lượng dịch ngoại bào, hoặc phá vỡ khu trú của của lớp màng não tủy với có thần kinh đệm hóa.

    Trên CT, phức hợp não thất lớn và tăng tỷ trọng quanh não thất gợi ý chẩn đoán của phù kẽ (Hình 12A). MRI là một phương pháp hình ảnh nhạy hơn, cho thấy giảm tín hiệu trên hình ảnh T1W và tăng tín hiệu quanh não thất trên hình ảnh T2W/FLAIR (Hình 12B).

    Hình 11 - Ependymitis granularis

    Hình 11 – Ependymitis granularis

    Hình ảnh MRI FLAIR cho thấy các vùng tam giác nhỏ tăng tín hiệu (mũi tên) vòng quanh phía trước bên sừng trán. Đây là điển hình cho biến thể giải phẫu bình thường

    Hình 12AB – Tràn dịch não áp lực bình thường

    Hình 12AB – Tràn dịch não áp lực bình thường

    A, Hình ảnh CT không tiêm thuốc cho thấy rõ sự mở rộng não thất bên tỷ lệ với rãnh cuộn não. Giảm tỷ trọng xung quanh sừng trán và sừng chẩm (các mũi tên) phản ánh sự di chuyển xuyên qua màng nội tủy của dịch não tủy. B, Hình ảnh MRI FLAIR một lần nữa cho thấy sự giãn trung tâm não thất và tăng tín hiệu độ 1 quanh não thất (các mũi tên). Phân bố rải rác của bệnh lý mạch máu nhỏ cũng hiện diện.

    Tăng tín hiệu quanh não thất có thể được phân loại theo mức độ nghiêm trọng của nó. Độ 1 (không liên tục) xuất hiện như là những ổ tín hiệu bất thường kế cận các sừng trán và chẩm và ngã ba của não thất bên. Độ 2 và 3 (liên tục và quầng quanh não thất) hoàn toàn bao quanh các não thất và có độ dày khác nhau. Độ 4 (sự bất thường khuếch tán của chất trắng) mở rộng tới chỗ nối chất trắng chất xám. Do vị trí ngoại bào của phù, bản đồ DTI có thể cho thấy vùng giảm phân số bất đẳng hướng. Tuy nhiên, độ khuếch tán tổng thể trung bình là bình thường trên DWI và bản đồ ADC.

    Ở bệnh nhân có triệu chứng, phẫu thuật với loại bỏ tổn thương tắc nghẽn (không thông thương với tràn dịch não) hoặc đặt ống thông não thất (thông thương với tràn dịch não) cho phép bình thường hóa áp lực não thất. Ngược lại, điều này cho phép tái hấp thu thuận chiều của dịch kẽ qua màng lót não thất và trở lại hệ thống não thất. Nếu không có sự can thiệp, kết quả cuối cùng sẽ tiến triển đến teo não và thần kinh đệm hóa.

    Phù não do các các loại Phù kết hợp Combined Edema

    Một số rối loạn tạo ra một dạng hỗn hợp của phù độc tế bào và phù vận mạch. Điều này có thể là do nhiều tiêu điểm hoặc bệnh hệ thống hoặc do thay đổi sinh bệnh học có liên quan đến sự tiến triển bệnh. Nguyên nhân bao gồm chấn thương, bệnh não thiếu oxy – thiếu máu cục bộ, tình trạng trao đổi chất hoặc chất độc, suy yếu cơ quan đa hệ thống, cơn tăng huyết áp, và nhiễm trùng hoặc viêm. Trên CT và MRI, có sự mất hoàn toàn sự phân biệt chất xám – chất trắng và xóa bỏ các rãnh cuộn não, não thất và bể nền. Nếu nguyên nhân nằm bên dưới không được giải quyết, sự tiến triển đến thoát vị qua lều và thoát vị tiểu não chết người là không thể tránh khỏi. Sự can thiệp tích cực được chỉ định, bao gồm giải phẫu giải áp nếu tình trạng này trở nên khó giải quyết với điều trị nội khoa.

    4.1 Phù não do Chấn thương sọ não Trauma 

    Đụng giập não được gây ra bởi chấn thương đầu trực tiếp, kinh điển ảnh hưởng đến phía dưới thùy trán và phía trước thùy thái dương. Chấn thương đập trực tiếp xảy ra khi một vật di chuyển tác động vào đầu đứng yên, với tổn thương trực tiếp ngay sát dưới vị trí chấn thương. Chấn thương đụng dội xảy ra khi đầu di động va chạm vào một vật cố định, gây ra sự truyền lực quán tính tới phía đối diện khu vực bị tác động. Cả phù độc tế bào và phù vận mạch đều hiện diện, phản ánh phản ứng tích tụ chất chuyển hóa trong tế bào và chấn thương mở ra của hàng rào máu não. Tổn thương mạch máu có thể gây xuất huyết (Hình 13A-C).

    Các lực giảm tốc nghiêm trọng, ví dụ như tai nạn xe máy tốc độ cao, có thể gây tổn thương sợi trục lan tỏa. Điều này xảy ra thông qua các cơ chế xé khác nhau và ảnh hưởng ưu thế đến vị trí nối chất xám – chất trắng, thể chai và cuống não. Khi nhìn thấy ở trẻ em và người cao tuổi, những chuỗi phát hiện này nên gợi ý chấn thương không ngẫu nhiên, đặc biệt khi tiền sử không phù hợp với mức độ tổn thương. Gãy xương, xuất huyết nội sọ, và xuất huyết võng mạc cũng là đặc trưng và thấy sự không đồng nhất tùy vị trí và thời điểm.

    Trên CT, các vùng phù hoặc xuất huyết có thể khá kín đáo. MRI là nhạy hơn, cho thấy tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2/FLAIR ở các vùng của phù và hình ảnh chuỗi xung GRE/SWI nhạy với các ổ xuất huyết nhỏ (Hình 13D-E). Sự khuếch tán hạn chế đối với chuỗi xung DWI và ADC biểu hiện thiếu máu cục bộ. DTI với kỹ thuật chụp bó sợi xác định mức độ tổn thương đối với các bó sợi chất trắng. Theo thời gian, tổn thương tiến triển và trở nên khó thấy hơn. Vào giai đoạn cuối cùng, hemosiderin còn lại và teo não mạn tính có thể được nhận ra.

    Sự điều trị của tổn thương sợi trục lan tỏa chủ yếu là hỗ trợ. Áp lực nội sọ nên được theo dõi liên tục bằng thiết bị ở những bệnh nhân có thang điểm Glasgow Coma thấp hơn 9, các kết quả CT bất thường, tuổi trên 40, tư thế vận động bất thường, huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg. Cấp cứu mở thông não thất hoặc phẫu thuật có thể được yêu cầu để giải ép.

    Hình 13 .1– Tổn thương do chấn thương não

    Hình 13 .1– Tổn thương do chấn thương não

    Hình 13 .1– Tổn thương do chấn thương não

    Hình 13 .2– Tổn thương do chấn thương não

    A, Hình ảnh CT không tiêm thuốc cho thấy đụng giập xuất huyết với các sản phẩm trong máu và phù nề xung quanh ở phía dưới thùy trán, bên trái (dấu hoa thị) nhiều hơn bên phải. B, Hình ảnh CT không tiêm thuốc ở cùng một bệnh nhân như hình A, cho thấy đụng giập xuất huyết ở phía trước thùy thái dương bên trái (dấu hoa thị). C, Hình ảnh CT không tiêm thuốc của bệnh nhân khác với tổn thương sợi trục lan tỏa cho thấy nhiều điểm xuất huyết (mũi tên) tập trung ở chỗ nối chất xám chất trắng. D, Hình ảnh FLAIR cùng một bệnh nhân ở hình C, cho thấy nhiều vùng bất thường tín hiệu biểu hiện phù (mũi tên). E, Hình ảnh GRE cùng một bệnh nhân ở hình C, cho thấy thêm các ổ vi xuất huyết (mũi tên).

    Phù não do Bệnh não thiếu oxy – thiếu máu cục bộ Hypoxic-Ischemic Encephalopathy

    Bệnh não thiếu oxy – thiếu máu cục bộ là một dạng tổn thương não do thiếu oxy một phần. Sinh lý bệnh học liên quan đến tổn thương ty thể phụ thuộc năng lượng dẫn đến tăng bạch cầu ưa acid, sự tiêu hóa của đại thực bào, teo vỏ não và thần kinh đệm hóa. Nó thường thấy ở trẻ sơ sinh non tháng thứ phát sau ngạt, nhưng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi.

    Nguyên nhân bao gồm các tình trạng thiếu oxy (giảm oxy môi trường có thể xảy ra do độ cao hoặc thứ phát do lặn hoặc siết cổ), thiếu oxy máu (giảm oxy trong máu, như bệnh thiếu máu, shunt phổi hoặc tim, hoặc ngộ độc carbon monoxide), thiếu máu cục bộ (lưu lượng máu không đủ, như trong nhồi máu, sốc, ngừng tim, tăng áp lực nội sọ) và thiếu oxy mô (suy giảm chuyển hóa oxy, như hội chứng Reye thứ phát do sử dụng aspirin ở trẻ em, cianua, thiếc triethyl, chì, hexachlorophene, methionine sulfoxime, cuprizone, isoniazid, và dinitrophenol).

    Tổn thương có thể là khu trú, lan tỏa hoặc toàn bộ, với mức độ nghiêm trọng khác nhau, từ phù tạm thời tới nhồi máu không hồi phục và hoại tử. Các tổn thương cấp tính biểu hiện giảm tỷ trọng trên CT và giảm tín hiệu trên hình ảnh T1W và tăng tín hiệu trên hình ảnh T2W bởi vì có liên quan đến phù hoặc nhũn não. Sự ngấm thuốc tương phản là biến đổi và chỉ ra tiên lượng xấu hơn phản ánh của thương tổn đang tiếp tục tiến triển. Có một dạng phù độc tế, với sự khuếch tán hạn chế trên DWI và bản đồ ADC. Chất xám sâu thường bị ảnh hưởng nặng nề nhất do nó yêu cầu trao đổi chất cao (thân tế bào thần kinh và tế bào thần kinh đệm) và sự phân bố động mạch thượng lưu.

    Vị trí kinh điển bao gồm vùng hải mã; bèo nhạt; và, ở một mức độ thấp hơn, nhân đuôi, bèo sẫm, và đồi thị (Hình 14A). Tiểu não và cuống não khá có sức chịu đựng với tình trạng thiếu oxy, và sự liên quan của các vùng này cho thấy tổn thương ở mức độ nghiêm trọng hơn.

    Nặng hơn ở bệnh não thiếu oxy – thiếu máu cục bộ có thể tạo ra một dạng phù vận mạch bao gồm các bó sợi chất trắng và vỏ bao myelin. Điều này ảnh hưởng đến chất trắng quanh não thất và dưới vỏ, thể chai, và bao trong và bao ngoài (Hình 14B). Mức độ nghiêm trọng của các phát hiện hình ảnh trong bệnh não thiếu oxy – thiếu máu cục bộ tương quan với khả năng lâm sàng của hội chứng chậm phát triển tâm thần kinh.

    Hình 14 - Bệnh não thiếu oxy - thiếu máu cục bộ.

    Hình 14 – Bệnh não thiếu oxy – thiếu máu cục bộ.

    A, Hình ảnh MRI của bệnh nhân bị tổn thương do hít phải khí carbon monoxide cho thấy các bất thường tín hiệu trên T2W ở bèo nhạt hai bên (mũi tên). Sự khuếch tán chậm đã được xác định trên chuỗi xung DWI và ADC, chỉ ra thành phần phù độc tế bào. B, Hình ảnh CT không tiêm thuốc ở bệnh nhân có phù não toàn thể sau ngừng tim cho thấy mất phân biệt chất xám – chất trắng lan tỏa do kết hợp phù độc tế bào và phù vận mạch. Bộ não căng ra rõ rệt, với sự xóa bỏ rãnh cuộn não và các não thất và sự co lại của các bể nền (mũi tên) tạo ra hình ảnh “giả xuất huyết dưới nhện”.

    Osmotic Edema Phù thẩm thấu

    Phù não thẩm thấu xảy ra khi nồng độ chất hòa tan khác nhau giữa nhu mô não và huyết tương. Điều này tạo ra một bất thường gradient áp suất thẩm thấu dẫn đến dịch chảy từ huyết thanh vào trong não. Nguyên nhân bao gồm các tình trạng làm loãng huyết tương (bao gồm ngộ độc nước, mất cân bằng thẩm tách, hạ natri máu, hội chứng tiết hormone kháng bài niệu không đúng lúc, đái tháo đường tăng ceton, suy gan thận và các quá trình trao đổi chất khác) và rối loạn làm tăng sự thẩm thấu của mô (xuất huyết, nhồi máu, đụng giập). Cả thành phần nội bào (phù độc tế bào) và ngoại bào (phù kẽ và vận mạch) đều được mô tả.

    Hydrostatic Edema Phù do áp lực thủy tĩnh

    Phù tăng áp lực thủy tĩnh xảy ra khi gia tăng cấp tính áp lực nội sọ và có thể phát triển ở những bệnh nhân phẫu thuật thần kinh, các cơn tăng huyết áp, bệnh thận tăng huyết áp, kinh giật, u tế bào ưa crom, và hội chứng Cushing. Sự tăng áp lực trong mạch máu gây ra sự co thắt phản ứng của mạch máu não, dẫn đến thiếu máu não cục bộ và phù độc tế bào. Cuối cùng, sự tự điều chỉnh mạch não bị lấn át và có quá tải mao mạch não, dẫn đến sự rò rỉ của dịch trong mô kẽ hoặc trong mạch vào khoang ngoại bào.

    Infection or Inflammation Nhiễm trùng hoặc Viêm

    Nhiễm trùng não có thể được gây ra bởi vi khuẩn; virus; nấm; và các thực thể khác, như thể đạm độc. Một trong những biểu hiện hình ảnh là abscess, viêm màng não, viêm não thất và viêm não. Nguyên nhân viêm bao gồm rối loạn hủy myelin (xơ cứng đa ổ, hội chứng PRES – hội chứng bệnh não tuần hoàn sau có thể hồi phục (Hình 15A, 15B, và 15C), bêṇ h chất trắng naõ nhiều ổ tiến triển), viêm mạch, các hội chứng tự miễn, động kinh, đau nửa đầu, xạ trị (Hình 16A và 16B), và các phản ứng thuốc.

    Hình 15 - Hội chứng PRES (hội chứng bệnh não tuần hoàn sau có thể hồi phục)

    Hình 15 – Hội chứng PRES (hội chứng bệnh não tuần hoàn sau có thể hồi phục)

    A, CT sọ không tiêm thuốc cho thấy giảm tỷ trọng ở thùy chẩm phía sau (mũi tên) với chủ yếu là dạng phù vận mạch, mặc dù có các vùng của vỏ não liên quan. B, Hình ảnh MRI FLAIR một lần nữa cho thấy tăng tín hiệu đối xứng (mũi tên) với sự liên quan cả chất trắng và chất xám. C, Hình ảnh MRI T1W có thuốc tương phản cho thấy ngấm thuốc dạng vân nhẹ (mũi tên) ở khu vực này, được cho là xảy ra thứ phát do tăng huyết áp thoáng qua gây ra giãn mạch với sự phá vỡ của hàng rào máu não.

    Hình 16 – Hoại tử do phóng xạ

    Hình 16 – Hoại tử do phóng xạ

    A, Hình ảnh MRI FLAIR cho thấy phù nề rộng vùng trán hai bên (mũi tên mỏng) với chủ yếu phân bố phù vận mạch và sự liên quan của gối thể chai (mũi tên dày). Các xoang trán cũng bị mờ. B, Hình ảnh T1W có thuốc tương phản cho thấy ngấm thuốc nhẹ dạng nét vòng (mũi tên) và các vùng trung tâm của ngấm thuốc ít.

    Những thực thể này sinh ra phù vận mạch do sự hư hại của hàng rào máu não. Các khu vực nội bộ khuếch tán hạn chế có thể cũng có mặt và có thể biểu hiện các thành phần protein hoặc xuất huyết (điển hình tăng tín hiệu trên T1W) hoặc thiếu máu cục bộ với phù vận mạch (tăng tín hiệu trên hình ảnh T2W và giảm tín hiệu trên hình ảnh T1W). Sự ngấm thuốc tương phản rõ nét nhất là trong giai đoạn cấp và giảm theo thời gian. Trong những trường hợp nhiễm trùng não, ngấm thuốc mô mềm không đồng nhất gợi ý của một viêm tấy, trong khi tổ chức dịch với ngấm thuốc dạng vòng dày là liên quan đến abscess (Hình 17A và 17B).

    Hình 17 – Abscess não

    Hình 17 – Abscess não

    A, Hình ảnh T1W có thuốc tương phản biểu lộ sự tập trung dịch dạng thùy với ngấm thuốc dạng vòng không đều (mũi tên) ở thùy đỉnh phải. B, Hình ảnh FLAIR cho thấy phù vận mạch xung quanh (mũi tên).

    Tài liệu tham khảo về các loại phù não:

    1. Nag S, Manias JL, Stewart DJ. Pathology and new players in the pathogenesis of brain edema. Acta Neuropathol 2009; 118:197–217

    2. Marmarou A. A review of progress in understanding the pathophysiology and treatment of brain edema. Neurosurg Focus 2007; 22:E1

    3. Latchaw RE, Alberts MJ, Lev MH, et al. Recommendations for imaging of acute ischemic stroke: a scientific statement from the American Heart Association. Stroke 2009; 40:3646–3378

    4. Moritani T, Ekholm S, Westesson PL. Brain edema. In: Moritani T, Ekholm S, Westesson PL, eds. Diffusion-weighted MR imaging of the brain, 2nd ed. Berlin, Germany: Springer-Verlag, 2009: 37–52

    5. Rabinstein AA. Treatment of cerebral edema. Neur

    Các loại phù não, bao gồm phù vận mạch do thông động tĩnh mạch, phù kẽ do tràn dịch não, và phù kết hợp từ chấn thương, thiếu oxy, rối loạn thẩm thấu, áp lực thủy tĩnh hay nhiễm trùng, đều phản ánh những cơ chế sinh lý bệnh phức tạp của tổn thương não. Qua hình ảnh CT và MRI, từ giảm tỷ trọng, tăng tín hiệu T2/FLAIR đến hạn chế khuếch tán trên DWI, bác sĩ có thể phân loại và xác định nguyên nhân chính xác, từ đó đưa ra chiến lược điều trị phù hợp – từ dùng thuốc giảm áp lực nội sọ như mannitol đến phẫu thuật giải ép. Việc nhận diện sớm các loại phù não qua triệu chứng và hình ảnh học là yếu tố sống còn để ngăn ngừa biến chứng nguy hiểm như thoát vị não.
  • Đốt sóng cao tần tuyến giáp (RFA) – Phương pháp điều trị hiện đại không phẫu thuật

    Đốt sóng cao tần tuyến giáp (RFA) – Phương pháp điều trị hiện đại không phẫu thuật

    Đốt sóng cao tần tuyến giáp (RFA) là một phương pháp xâm lấn tối thiểu, hiệu quả cao và an toàn, phục hồi nhanh, đã  được sử dụng để điều trị thay thế cho mổ mở cắt tuyến giáp ở những bệnh nhân có nhân giáp lành tính nhân nhỏ và không muốn để lại sẹo mổ vùng cổ, đây là phương pháp mới, áp dụng công nghệ hiện đại cho kết quả chính xác, bệnh nhân không cần uống hormon tuyến giáp thay thế sau thời gian điều trị

    Tuyến giáp và bướu giáp – Hiểu biết cơ bản

    Tuyến giáp – Cơ quan điều hòa chuyển hóa quan trọng

    Tuyến giáp là một tuyến nội tiết quan trọng nằm ở phía trước cổ, có hình dạng giống con bướm với hai thùy nằm hai bên khí quản. Với chức năng tiết ra các hormone T3, T4, tuyến giáp đóng vai trò thiết yếu trong việc điều chỉnh:

    • Nhịp tim và huyết áp
    • Nhiệt độ cơ thể
    • Quá trình trao đổi chất
    • Sự phát triển và hoạt động của các cơ quan

    Bướu tuyến giáp – Vấn đề sức khỏe phổ biến

    Bướu nhân tuyến giáp (hay còn gọi là u tuyến giáp, bướu cổ) là tình trạng tuyến giáp xuất hiện các khối tổn thương khu trú do sự tăng sinh bất thường của tế bào. Đặc điểm của bướu tuyến giáp:

    • Có thể ở dạng đặc, dạng nang hoặc hỗn hợp
    • Phần lớn (khoảng 90-95%) là lành tính
    • Gặp ở nữ nhiều hơn nam
    • Thường không có triệu chứng, được phát hiện tình cờ qua siêu âm
    • Khi to có thể gây chèn ép, khó thở, khó nuốt hoặc mất thẩm mỹ vùng cổ

    Chẩn đoán bướu tuyến giáp dựa vào:

    • Siêu âm tuyến giáp và vùng cổ
    • Xét nghiệm nồng độ hormone tuyến giáp (T3, T4, TSH)
    • Chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA) dưới hướng dẫn siêu âm

    U tuyến giáp phát triển to cần can thiệp y tế

    U tuyến giáp phát triển to cần can thiệp y tế

    Đốt sóng cao tần tuyến giáp RFA – Phương pháp điều trị tiên tiến

    Nguyên lý hoạt động

    Đốt sóng cao tần (Radiofrequency Ablation – RFA) là phương pháp điều trị xâm lấn tối thiểu, sử dụng năng lượng nhiệt để phá hủy mô bệnh lý một cách chọn lọc. Kỹ thuật này hoạt động dựa trên nguyên lý:

    • Sử dụng dòng điện xoay chiều có tần số cao (khoảng 480-500 kHz)
    • Tạo ra sự ma sát của các ion trong mô dưới tác động của dòng điện
    • Sinh nhiệt tại vị trí đầu kim (60-100°C) đủ để gây hoại tử đông mô bệnh lý
    • Áp dụng chính xác vào vị trí nhân giáp dưới hướng dẫn của siêu âm
    • Bảo tồn tối đa mô tuyến giáp lành xung quanh

    Công nghệ tiên tiến

    Phương pháp RFA được thực hiện với sự hỗ trợ của:

    • Máy siêu âm độ phân giải cao
    • Hệ thống máy phát sóng cao tần hiện đại
    • Kim đốt chuyên dụng có thể điều chỉnh chính xác vị trí và nhiệt độ
    • Phần mềm theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị theo thời gian thực

    Ưu điểm vượt trội của RFA so với phẫu thuật truyền thống

    Dưới đây là bảng so sánh giữa đốt sóng cao tần tuyến giáp RFA để bạn thấy được ưu điểm của phương pháp này so với việc mổ truyền thống

    Tiêu chí Đốt sóng cao tần RFA Phẫu thuật truyền thống
    Phương pháp Xâm lấn tối thiểu Phẫu thuật mở
    Gây mê/tê Chỉ cần gây tê tại chỗ Gây mê toàn thân
    Thời gian thực hiện 20-30 phút 1-2 giờ
    Thời gian nằm viện Xuất viện trong ngày 3-7 ngày
    Sẹo mổ Không để lại sẹo Sẹo dài vùng cổ trước
    Chức năng tuyến giáp Bảo tồn tối đa Có thể mất một phần hoặc toàn bộ
    Dùng hormone thay thế Không cần Thường cần dùng suốt đời
    Thời gian hồi phục 1-2 ngày 7-10 ngày
    Biến chứng Tỷ lệ thấp (≤3%) Tỷ lệ cao hơn

    Tổng hợp ưu điểm

    An toàn và chính xác

    • Thực hiện dưới hướng dẫn siêu âm, kiểm soát chặt chẽ vùng điều trị
    • Tác động chọn lọc vào mô bệnh lý, bảo vệ các cấu trúc quan trọng lân cận

    Bảo tồn chức năng tuyến giáp

    • Không cần cắt bỏ mô tuyến giáp lành
    • Không phải dùng hormone thay thế suốt đời

    Phục hồi nhanh chóng

    • Xuất viện trong ngày
    • Trở lại sinh hoạt bình thường sau 1-2 ngày
    • Ít đau và khó chịu sau thủ thuật

    Thẩm mỹ tối ưu

    • Không để lại sẹo mổ vùng cổ
    • Lý tưởng cho người trẻ và những người quan tâm đến yếu tố thẩm mỹ

    Hiệu quả điều trị cao

    • Giảm 50-80% thể tích khối u sau 6 tháng
    • Cải thiện rõ rệt các triệu chứng chèn ép

    Ưu điểm vượt trội của RFA so với phẫu thuật truyền thống

    Ưu điểm vượt trội của RFA so với phẫu thuật truyền thống

    Đối tượng phù hợp với phương pháp đốt sóng cao tần

    Phương pháp đốt sóng cao tần tuyến giápRFA phù hợp với các đối tượng:

    • Người có nhân giáp lành tính kích thước vừa và nhỏ
    • Bướu giáp gây triệu chứng chèn ép như khó thở, khó nuốt
    • Bướu giáp to gây mất thẩm mỹ vùng cổ
    • Người bệnh lo lắng về bướu giáp và muốn điều trị
    • Người không muốn phẫu thuật hoặc có chống chỉ định phẫu thuật
    • Người muốn bảo tồn chức năng tuyến giáp
    • Người quan tâm đến yếu tố thẩm mỹ, không muốn có sẹo ở cổ
    • Một số trường hợp ung thư tuyến giáp thể nhú kích thước nhỏ (≤1cm)

    Quy trình điều trị chi tiết

    Chuẩn bị trước thủ thuật

    Thăm khám và đánh giá

    • Khám lâm sàng
    • Siêu âm tuyến giáp xác định vị trí, kích thước khối u
    • Xét nghiệm máu đánh giá chức năng tuyến giáp
    • Sinh thiết tế bào bằng kim nhỏ (FNA) để xác định bản chất khối u

    Tư vấn và chuẩn bị

    • Giải thích kỹ quy trình điều trị cho người bệnh
    • Ký cam kết đồng ý thực hiện thủ thuật
    • Nhịn ăn 4-6 giờ trước thủ thuật

    Các bước thực hiện

    1. Vô trùng vùng cổ và khu vực thực hiện thủ thuật
    2. Gây tê tại chỗ
      • Tiêm thuốc tê (Lidocain 2%) vào khoang quanh tuyến giáp
      • Người bệnh hoàn toàn tỉnh táo và giao tiếp được trong suốt quá trình
    3. Thực hiện đốt sóng cao tần
      • Đưa kim đốt vào vị trí nhân giáp dưới hướng dẫn siêu âm
      • Kích hoạt năng lượng sóng cao tần
      • Kiểm soát nhiệt độ và vùng điều trị liên tục
      • Thực hiện đốt theo kỹ thuật “moving shot” đảm bảo phủ toàn bộ khối u
    4. Kiểm tra sau điều trị
      • Siêu âm kiểm tra lại vùng điều trị
      • Đánh giá tổng thể tổn thương sau đốt
    5. Theo dõi sau thủ thuật
      • Người bệnh nghỉ ngơi tại chỗ 30 phút – 1 giờ
      • Xuất viện trong ngày nếu không có biến chứng

    Hiệu quả điều trị và thời gian phục hồi

    Kết quả theo thời gian

    Kết quả điều trị bướu giáp bằng đốt sóng cao tần tuyến giáp RFA thường diễn tiến theo các giai đoạn:

    • 1-2 tuần đầu: Kích thước bướu có thể tăng nhẹ do phản ứng viêm tự nhiên
    • Sau 1 tháng: Giảm khoảng 50% thể tích khối u
    • Sau 3 tháng: Giảm 50-70% thể tích khối u
    • Sau 6 tháng: Giảm 70-95% thể tích khối u
    • Sau 12 tháng: Chủ yếu còn lại mô sẹo

    Đối với những trường hợp bướu kích thước lớn (>3cm) hoặc tốc độ giảm thể tích chưa đạt yêu cầu sau 9-12 tháng, có thể xem xét đốt thêm lần 2 để đạt hiệu quả tối đa.

    Theo dõi sau điều trị

    • Tái khám và siêu âm sau 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 12 tháng
    • Theo dõi định kỳ 1 năm/lần trong 5 năm tiếp theo
    • Kiểm tra chức năng tuyến giáp định kỳ

    Hiệu quả điều trị và thời gian phục hồi của RFA nhanh chóng hơn

    Những lưu ý và biến chứng có thể gặp

    Biến chứng có thể gặp

    Mặc dù đốt sóng cao tần tuyến giáp RFA là phương pháp an toàn, nhưng vẫn có thể gặp một số biến chứng hiếm gặp:

    Biến chứng thường gặp nhưng nhẹ

    • Đau nhẹ tại vị trí đốt (thường hết sau vài ngày)
    • Phù nề tạm thời vùng cổ
    • Bầm tím nhẹ tại vị trí đâm kim

    Biến chứng hiếm gặp

    • Dị ứng thuốc gây tê do cơ địa người bệnh
    • Nói khàn tạm thời do phù nề chèn ép dây thần kinh quặt ngược (thường hồi phục sau 1 tháng)
    • Tổn thương các cấu trúc lân cận như khí quản, thực quản (tỷ lệ dưới 1%)
    • Chảy máu nhẹ tại vị trí can thiệp

    Biến chứng rất hiếm gặp

    • Tổn thương vĩnh viễn dây thần kinh quặt ngược (tỷ lệ dưới 1%)
    • Nhiễm trùng tại vị trí can thiệp
    • Bỏng da vùng điện cực

    Lưu ý quan trọng trước và sau thủ thuật

    Trước thủ thuật:

    • Thông báo đầy đủ cho bác sĩ về tiền sử bệnh, dị ứng và thuốc đang sử dụng
    • Ngừng các thuốc chống đông máu (nếu có) theo hướng dẫn của bác sĩ
    • Nhịn ăn 4-6 giờ trước khi thực hiện thủ thuật
    • Chuẩn bị tâm lý thoải mái, giảm lo lắng

    Sau thủ thuật:

    • Theo dõi các dấu hiệu bất thường như: khó thở, khó nuốt, nói khàn kéo dài
    • Có thể dùng thuốc giảm đau nhẹ nếu cảm thấy đau tại vị trí đốt
    • Tránh các hoạt động gắng sức trong 48 giờ đầu
    • Uống nhiều nước và duy trì chế độ ăn nhẹ, dễ tiêu
    • Tái khám theo lịch hẹn đầy đủ để đánh giá hiệu quả điều trị

    BS. Nguyễn Đức Tỉnh thực hiện phương pháp điều trị RFA

    Câu hỏi thường gặp

    1. Đốt sóng cao tần tuyến giáp có đau không?

    Thủ thuật được thực hiện dưới gây tê tại chỗ, người bệnh vẫn tỉnh táo trong suốt quá trình. Đa số người bệnh chỉ cảm thấy hơi khó chịu nhẹ trong quá trình thực hiện. Sau thủ thuật có thể xuất hiện đau nhẹ, thường kiểm soát được bằng thuốc giảm đau thông thường và hết sau vài ngày.

    2. Sau khi đốt sóng cao tần, tôi có phải uống thuốc hormone tuyến giáp không?

    Không. Đây chính là ưu điểm vượt trội của phương pháp đốt sóng cao tần tuyến giáp so với phẫu thuật truyền thống. Do chỉ đốt chọn lọc vào nhân giáp bệnh lý, phần tuyến giáp lành được bảo tồn tối đa và vẫn duy trì chức năng bình thường, nên người bệnh không cần dùng hormone tuyến giáp thay thế sau khi điều trị.

    3. Chi phí điều trị bướu giáp bằng đốt sóng cao tần là bao nhiêu?

    Chi phí đốt sóng cao tần tuyến giáp điều trị bướu giáp thường dao động từ 15-30 triệu đồng tùy theo cơ sở y tế, loại máy sử dụng và mức độ phức tạp của từng ca bệnh. Mặc dù chi phí ban đầu có thể cao hơn so với phẫu thuật, nhưng nếu tính toán tổng thể (bao gồm chi phí nằm viện ngắn, không cần dùng thuốc hormone suốt đời, ít biến chứng) thì đây vẫn là phương pháp có hiệu quả kinh tế.

    4. Thời gian phục hồi sau đốt sóng cao tần mất bao lâu?

    Người bệnh có thể xuất viện ngay trong ngày sau khi thực hiện thủ thuật và trở lại sinh hoạt bình thường sau 1-2 ngày. Đây là thời gian phục hồi nhanh hơn rất nhiều so với phẫu thuật truyền thống (7-10 ngày).

    5. Đốt sóng cao tần có thể áp dụng cho tất cả các loại bướu giáp không?

    Không phải tất cả. Phương pháp này chủ yếu được chỉ định cho bướu giáp lành tính. Đối với ung thư tuyến giáp, hiện tại chỉ một số trường hợp ung thư tuyến giáp thể nhú kích thước nhỏ (≤1cm), không xâm lấn và không có di căn mới có thể cân nhắc điều trị bằng RFA, và thường áp dụng cho người không thể phẫu thuật hoặc từ chối phẫu thuật.

    6. Sau khi đốt sóng cao tần, bao lâu thì bướu giáp giảm kích thước?

    Sau đốt sóng cao tần tuyến giáp RFA, kích thước bướu giáp sẽ giảm dần theo thời gian:

    • Sau 1 tháng giảm khoảng 50%
    • Sau 3 tháng giảm 50-70%
    • Sau 6 tháng giảm 70-95%
    • Sau 12 tháng chủ yếu còn lại mô sẹo

    7. Ai là người thực hiện thủ thuật đốt sóng cao tần tuyến giáp?

    Thủ thuật này được thực hiện bởi các bác sĩ chuyên khoa Chẩn đoán hình ảnh có chuyên môn về siêu âm và can thiệp, đã được đào tạo chuyên sâu về kỹ thuật đốt sóng cao tần và có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.

    8. Nếu đốt sóng cao tần không hiệu quả, tôi có thể phẫu thuật sau này không?

    Hoàn toàn có thể. Nếu sau điều trị bằng đốt sóng cao tần tuyến giáp mà kết quả không như mong đợi, người bệnh vẫn có thể thực hiện phẫu thuật sau đó. Đốt sóng cao tần không làm thay đổi cấu trúc giải phẫu tuyến giáp và không gây khó khăn cho phẫu thuật sau này.

    9. Tôi có thể điều trị bằng đốt sóng cao tần nếu đang mang thai không?

    Không. Phụ nữ mang thai không nên thực hiện đốt sóng cao tần vì chưa có đủ dữ liệu về tính an toàn của phương pháp này đối với thai nhi. Nên hoãn điều trị đến sau khi sinh hoặc cân nhắc phương pháp điều trị khác trong thời gian mang thai.

    10. Sau khi đốt sóng cao tần, có khả năng bướu giáp tái phát không?

    Có thể có trường hợp tái phát, tuy nhiên tỷ lệ này thấp. Nghiên cứu dài hạn cho thấy tỷ lệ tái phát sau 5 năm khoảng 5-10%. Để giảm nguy cơ tái phát, người bệnh nên tuân thủ lịch tái khám định kỳ để theo dõi và phát hiện sớm nếu có tái phát.

    Trên đây là một số chia sẻ của BS Nguyễn Đức Tỉnh , khoa CĐHA bv175 về phương pháp đốt sóng cao tần tuyến giáp mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ bác sĩ qua sdt 0976958582 hoặc gửi thư theo địa chỉ mail : [email protected] chúc bạn và gia đình luôn mạnh khỏe.

  • Phình động mạch não – Tất cả thông tin bạn cần biết

    Phình động mạch não – Tất cả thông tin bạn cần biết

    Phình động mạch não là một tình trạng nguy hiểm tiềm ẩn, có thể dẫn đến biến chứng nghiêm trọng như đột quỵ xuất huyết nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Đây là hiện tượng một đoạn mạch máu trong não bị giãn nở bất thường, tạo thành túi phình do thành mạch suy yếu. Bệnh thường tiến triển âm thầm và chỉ bộc lộ triệu chứng khi túi phình lớn hoặc vỡ. Vậy phình động mạch não có nguy hiểm không? Nguyên nhân, triệu chứng và phương pháp điều trị là gì? Hãy cùng tìm hiểu chi tiết qua bài viết dưới đây!

    Chứng phình động mạch não là gì?

    Chứng phình động mạch não (brain aneurysm) là một điểm yếu hoặc mỏng trên động mạch trong não phình và chứa đầy máu. Chứng phình động mạch có thể gây áp lực lên các dây thần kinh hoặc mô não. Nó cũng có thể vỡ ra, tràn máu vào các mô xung quanh (gọi là xuất huyết não). Chứng phình động mạch bị vỡ có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng như đột quỵ xuất huyết, tổn thương não, hôn mê và thậm chí tử vong.

    Một số chứng phình động mạch não, đặc biệt là những chứng rất nhỏ, không chảy máu hoặc gây ra các vấn đề khác. Những loại phình động mạch này thường được phát hiện tình cờ khi chụp CT scan hoặc MRI sọ não. Chứng phình động mạch não có thể xảy ra ở bất cứ đâu trong não, nhưng hầu hết hình thành ở các động mạch chính dọc theo đáy hộp sọ. Tất cả các chứng phình động mạch não đều có khả năng bị vỡ và gây chảy máu trong não hoặc khu vực xung quanh.

    Triệu chứng của phình động mạch não.

    Triệu Chứng phình động mạch chưa vỡ:

    Hầu hết chứng phình động mạch não không biểu hiện triệu chứng cho đến khi chúng trở nên rất lớn hoặc bị vỡ. Chứng phình động mạch nhỏ không thay đổi thường sẽ không tạo ra các triệu chứng.Chứng phình động mạch lớn hơn đang phát triển đều đặn có thể đè lên các mô và dây thần kinh gây ra:

    • Đau trên và sau mắt
    • Tê tái
    • Yếu chi
    • Liệt một bên mặt
    • Tăng nhãn áp
    • Thay đổi tầm nhìn hoặc nhìn đôi.

     Phình động mạch bị vỡ.

    Khi phình động mạch bị vỡ , người ta luôn cảm thấy đau đầu đột ngột và cực kỳ dữ dội (ví dụ: cơn đau đầu tồi tệ nhất trong đời) và cũng có thể phát triển:

    • Nhìn đôi
    • Buồn nôn
    • Nôn mửa
    • Cứng cổ
    • Nhạy cảm với ánh sáng
    • Co giật
    • Mất ý thức (điều này có thể xảy ra trong thời gian ngắn hoặc có thể kéo dài)
    • Ngừng Tim

     Rò rỉ túi phình động mạch não

    Đôi khi  phình động mạch có thể rò rỉ một lượng máu nhỏ vào não (được gọi là chảy máu trọng điểm). đau đầu cảnh báo có thể do chứng phình động mạch bị rò rỉ rất nhỏ, vài ngày hoặc vài tuần trước khi bị vỡ đáng kể. Tuy nhiên, chỉ một số ít cá nhân bị đau đầu trước khi vỡ.

    Nếu bạn bị đau đầu dữ dội, đột ngột, đặc biệt là khi nó kết hợp với bất kỳ triệu chứng nào khác kể trên bạn nên Đi khám ngay lập tức.

     Phân loại phình động mạch não

    Phân loại phình động mạch não theo hình dạng 

    Có ba loại phình động mạch não :

    • Túi phình động mạch ( Saccular Saccular aneurysm). Phình mạch dạng túi là một túi tròn chứa máu, được gắn vào động mạch chính hoặc một trong các nhánh của nó. Còn được gọi là chứng phình động mạch dạng quả mọng (vì nó giống quả mọng treo trên cây nho), đây là dạng phình động mạch não phổ biến nhất. Nó thường được tìm thấy trên các động mạch ở đáy não. Túi phình động mạch xảy ra thường xuyên nhất ở người lớn.
    • Chứng phình động mạch Fusiform ( Fusiform aneurysm). Phình phình động mạch hình thoi phình to hoặc phình ra ở tất cả các phía của động mạch.
    • Chứng phình động mạch do nấm ( Mycotic aneurysm). Chứng phình động mạch do nấm xảy ra do nhiễm trùng đôi khi có thể ảnh hưởng đến các động mạch trong não. Nhiễm trùng làm suy yếu thành động mạch, khiến hình thành phình động mạch.

     Phân loại phình động mạch não theo kích thước túi phình

    • Chứng phình động mạch cũng được phân loại theo kích thước: nhỏ, lớn và khổng lồ.
    • Chứng phình động mạch nhỏ có đường kính dưới 11 mm.
    • Chứng phình động mạch lớn có kích thước từ 11 đến 25 mm.
    • Chứng phình động mạch khổng lồ có đường kính lớn hơn 25 mm.

    Ai có nhiều khả năng bị phình động mạch não?

    Chứng phình động mạch não hình thành khi thành động mạch trong não trở nên mỏng và yếu đi. Chứng phình động mạch thường hình thành tại các điểm nhánh trong động mạch vì những phần này là yếu nhất. Đôi khi, chứng phình động mạch não có thể xuất hiện từ khi sinh ra, thường là do bất thường ở thành động mạch.          

    Chứng phình động mạch não có thể xảy ra ở bất kỳ ai và ở mọi lứa tuổi. Chúng phổ biến nhất ở người lớn trong độ tuổi từ 30 đến 60 và phổ biến ở phụ nữ hơn nam giới. Những người mắc một số rối loạn di truyền cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn.

    Các yếu tố nguy cơ phát triển phình động mạch

    Đôi khi chứng phình động mạch não là kết quả của các yếu tố nguy cơ di truyền, bao gồm:

    • Rối loạn mô liên kết di truyền làm suy yếu thành động mạch.
    • Bệnh thận đa nang.
    • Dị dạng mạch máu não
    • Tiền sử phình động mạch ở thành viên gia đình cấp độ một (con, anh chị em hoặc cha mẹ)

    Các yếu tố rủi ro khác phát triển theo thời gian và bao gồm:

    • huyết áp cao không được điều trị
    • hút thuốc lá
    • lạm dụng ma túy, đặc biệt là cocaine hoặc amphetamine, làm tăng huyết áp đến mức nguy hiểm. Lạm dụng thuốc tiêm tĩnh mạch là nguyên nhân gây phình động mạch nhiễm trùng
    • tuổi trên 40
    • Các yếu tố rủi ro ít phổ biến hơn bao gồm:
    • chấn thương đầu
    • u não
    • nhiễm trùng trong thành động mạch (phình động mạch mycotic)
    • Ngoài ra, huyết áp cao, hút thuốc lá, tiểu đường và cholesterol cao khiến người ta có nguy cơ bị xơ vữa động mạch (một bệnh về mạch máu trong đó chất béo tích tụ bên trong thành động mạch), có thể làm tăng nguy cơ phát triển chứng phình động mạch hình thoi.

    Các yếu tố nguy cơ khiến phình động mạch bị vỡ

    Không phải tất cả các chứng phình động mạch sẽ vỡ. Các đặc điểm của chứng phình động mạch như kích thước, vị trí và sự phát triển trong quá trình đánh giá theo dõi có thể ảnh hưởng đến nguy cơ vỡ phình động mạch. Ngoài ra, các điều kiện y tế có thể ảnh hưởng đến vỡ phình động mạch.

    Các yếu tố rủi ro bao gồm:

    • Hút thuốc có liên quan đến cả sự phát triển và vỡ phình động mạch não. Hút thuốc thậm chí có thể gây ra nhiều chứng phình động mạch hình thành trong não.
    • Huyết áp cao làm tổn thương và làm suy yếu các động mạch, khiến chúng dễ hình thành và vỡ hơn.
    • Các chứng phình động mạch lớn nhất là những chứng có nhiều khả năng bị vỡ nhất ở một người trước đây không có triệu chứng.
    • Vị trí , Chứng phình động mạch nằm trên động mạch thông sau và có thể ở động mạch thông trước  có nguy cơ vỡ cao hơn so với những chỗ khác trong não.
    • Tăng trưởng  Chứng phình động mạch phát triển, ngay cả khi chúng nhỏ, có nguy cơ vỡ cao hơn.
    • Tiền sử gia đình bị vỡ phình mạch cho thấy nguy cơ vỡ phình mạch cao hơn được phát hiện ở các thành viên trong gia đình.
    • Nguy cơ lớn nhất xảy ra ở những người có nhiều chứng phình động mạch đã từng bị vỡ hoặc chảy máu trọng điểm trước đó.

    Xen thêm: Hình ảnh CT, MRI các loại phù não đầy đủ, chi tiết nhất

    Chứng phình động mạch não được chẩn đoán và điều trị như thế nào?

    Chẩn đoán chứng phình động mạch não

    Hầu hết các chứng phình động mạch não không được chú ý cho đến khi chúng bị vỡ hoặc được phát hiện trong quá trình kiểm tra chụp CT hoặc MR não vì một bệnh lý khác.

    Nếu bạn bị đau đầu dữ dội hoặc có bất kỳ triệu chứng nào khác liên quan đến chứng phình động mạch bị vỡ, bác sĩ sẽ yêu cầu xét nghiệm để xác định xem máu có rò rỉ vào khoảng trống giữa xương sọ và não hay không.

    Hiện có một số xét nghiệm để chẩn đoán chứng phình động mạch não và xác định phương pháp điều trị tốt nhất. Bao gồm các:

    • Chụp cắt lớp vi tính  (CT) . Đây thường là xét nghiệm đầu tiên mà bác sĩ sẽ yêu cầu để xác định xem có bị xuất huyết não hay không. Khi phát hiện có xuất huyết trong nhu mô não và xuất huyết dưới màng nhện, CTA ( CT sọ não có bơm thuốc cản quang) cho phép xác định vị trí, số lượng, kích thước của túi phình
    • Chụp cộng hưởng từ  (MRI) với chuỗi xung MRA ( tái tạo mạch máu não 3D) cho phép xác định vị trí, kích thước của túi phình.

    Hình ảnh phình động mạch cảnh trong phải khi chụp MRI sọ não với chuỗi xung  MRA

    Hình ảnh phình động mạch cảnh trong phải khi chụp MRI sọ não với chuỗi xung  MRA

    • Chụp động mạch não số hóa xóa nền DSA( Digital Subtraction Angiography) là phương pháp vừa chẩn đoán chính xác, tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán phình động mạch não, đồng thời cũng là phương pháp điều trị tốt nhất hiện nay, sau khi xác định vị trí túi phình, bác sĩ sẽ làm tắc túi phình bằng vật liệu nhân tạo.
    • Phân tích dịch não tủy  (CSF) nhằm phát hiện hồng cầu hiện diện trong dịch não tủy

    Biến chứng của vỡ phình động mạch não

    Chứng phình động mạch có thể vỡ và chảy máu vào khoảng trống giữa hộp sọ và não (xuất huyết dưới nhện) và đôi khi vào mô não (xuất huyết trong não). Đây là những dạng đột quỵ được gọi là đột quỵ xuất huyết. Chảy máu vào não có thể gây ra nhiều triệu chứng, từ đau đầu nhẹ đến tổn thương não vĩnh viễn hoặc thậm chí tử vong.

    Sau khi phình động mạch bị vỡ, nó có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng như:

    • Tái xuất huyết  Một khi nó đã bị vỡ, phình động mạch có thể bị vỡ lại trước khi được điều trị, dẫn đến chảy máu nhiều hơn vào não và gây ra nhiều tổn thương hơn hoặc tử vong.
    • Thay đổi mức natri Chảy máu trong não có thể phá vỡ sự cân bằng natri trong nguồn cung cấp máu và gây sưng tấy các tế bào não. Điều này có thể dẫn đến tổn thương não vĩnh viễn.
    • Não úng thủy Xuất huyết dưới nhện có thể gây não úng thủy. Não úng thủy là tình trạng tích tụ quá nhiều dịch não tủy trong não, gây ra áp lực có thể dẫn đến tổn thương não vĩnh viễn hoặc tử vong. Não úng thủy xảy ra thường xuyên sau xuất huyết dưới màng nhện vì máu cản trở dòng chảy bình thường của dịch não tủy. Nếu không được điều trị, áp lực bên trong đầu tăng lên có thể gây hôn mê hoặc tử vong.
    • Co thắt mạch máu . Điều này xảy ra thường xuyên sau xuất huyết dưới nhện khi chảy máu khiến các động mạch trong não co lại và hạn chế lưu lượng máu đến các vùng quan trọng của não. Điều này có thể gây ra đột quỵ do thiếu lưu lượng máu đến các bộ phận của não.

    Điều trị phình động mạch não.

    Không phải tất cả các chứng phình động mạch não đều cần điều trị. Một số phình động mạch rất nhỏ chưa vỡ không liên quan đến bất kỳ yếu tố nào cho thấy nguy cơ vỡ cao hơn có thể được để yên một cách an toàn và được theo dõi bằng MRA hoặc CTA để phát hiện bất kỳ sự phát triển nào. Điều quan trọng là phải tích cực điều trị bất kỳ vấn đề y tế nào cùng tồn tại và các yếu tố rủi ro.

    Các phương pháp điều trị chứng phình động mạch não chưa vỡ chưa có triệu chứng có một số biến chứng nghiêm trọng tiềm ẩn và cần được cân nhắc cẩn thận với nguy cơ vỡ dự đoán.

    Bác sĩ sẽ xem xét nhiều yếu tố khi xác định lựa chọn tốt nhất để điều trị chứng phình động mạch chưa vỡ, bao gồm:

    • loại, kích thước và vị trí của chứng phình động mạch
    • nguy cơ vỡ
    • tuổi tác và sức khỏe của người đó
    • lịch sử y tế cá nhân và gia đình
    • nguy cơ điều trị.
    • Các cá nhân cũng nên thực hiện các bước sau để giảm nguy cơ vỡ phình động mạch:
    • cẩn thận kiểm soát huyết áp
    • bỏ thuốc lá
    • tránh sử dụng cocaine hoặc các loại thuốc kích thích khác.
    • Phẫu thuật, điều trị nội mạch hoặc các liệu pháp khác thường được khuyến nghị để kiểm soát các triệu chứng và ngăn ngừa tổn thương do phình mạch chưa vỡ và vỡ.

    Phẫu thuật loại bỏ túi phình động mạch não.

    Có một số lựa chọn phẫu thuật để điều trị chứng phình động mạch não. Các thủ thuật này có một số rủi ro như có thể gây tổn thương cho các mạch máu khác, khả năng tái phát phình động mạch và chảy máu lại, và nguy cơ đột quỵ.

    Cắt vi mạch :Phương pháp này liên quan đến việc cắt đứt dòng máu đến phình động mạch và yêu cầu phẫu thuật não mở. Bác sĩ sẽ xác định vị trí các mạch máu nuôi phình động mạch và đặt một chiếc kẹp nhỏ, bằng kim loại, cổ của túi phình động mạch để ngăn chặn nguồn cung cấp máu cho nó. Clipping đã được chứng minh là có hiệu quả cao, tùy thuộc vào vị trí, kích thước và hình dạng của chứng phình động mạch. Nói chung, chứng phình động mạch được cắt hoàn toàn không tái phát.

    Điều trị nội mạch nút túi phình động mạch não.

    Thuyên tắc cuộn coil bạch kim. Thủ tục này là một thủ tục ít xâm lấn hơn so với phẫu thuật cắt vi mạch. Bác sĩ sẽ luồn một ống nhựa rỗng (ống thông) vào động mạch, thường là ở bẹn, và luồn qua cơ thể đến chỗ phình động mạch não. Sử dụng một sợi dây, bác sĩ sẽ luồn các cuộn dây có thể tháo rời (các vòng xoắn ốc nhỏ bằng dây bạch kim) qua ống thông và thả chúng vào chỗ phình động mạch. Các cuộn dây chặn chứng phình động mạch và làm giảm lưu lượng máu vào chứng phình động mạch. Quy trình này có thể cần được thực hiện nhiều lần trong suốt cuộc đời của người đó vì chứng phình động mạch được điều trị bằng phương pháp cuộn dây đôi khi có thể tái phát.

    Thiết bị chuyển hướng dòng chảy. Các lựa chọn điều trị nội mạch khác bao gồm đặt một ống đỡ động mạch nhỏ (ống lưới linh hoạt) tương tự như ống đặt cho tắc nghẽn tim. Quy trình này được sử dụng để điều trị chứng phình động mạch rất lớn và những chứng không thể điều trị bằng phẫu thuật hoặc thuyên tắc bằng cuộn dây bạch kim.

    Các phương pháp điều trị khác cho chứng phình động mạch não bị vỡ nhằm mục đích kiểm soát các triệu chứng và giảm các biến chứng. Những phương pháp điều trị này bao gồm:

    • Thuốc chống co giật  (thuốc chống co giật) có thể được sử dụng để ngăn ngừa co giật liên quan đến chứng phình động mạch bị vỡ.
    • Thuốc chẹn kênh canxi  có thể làm giảm nguy cơ đột quỵ do co thắt mạch máu.
    • Một shunt dẫn dịch não tủy từ não đến các nơi khác trong cơ thể, có thể được phẫu thuật đưa vào não sau khi vỡ nếu sự tích tụ dịch não tủy (não úng thủy) gây áp lực có hại lên mô não xung quanh.
    • Trị liệu phục hồi chức năng . Những người bị xuất huyết dưới nhện thường cần trị liệu về thể chất, ngôn ngữ và vận động để lấy lại chức năng đã mất và học cách đối phó với bất kỳ khuyết tật vĩnh viễn nào.

    Trên đây là bài viết tổng quan về phình động mạch não. tuy Phình động mạch não có nhiều biến chứng nguy hiểm có thể gây tử vong hoặc di chứng nặng nhưng nếu tầm soát tốt và điều trị sớm khi túi phình chưa vỡ hoàn toàn có thể giúp bạn loại bỏ được căn bệnh nguy hiểm nào. Hãy đi khám khi có bất cứ dấu hiệu nào nghi ngờ kể trên. Để được hỗ trợ tư vấn và tầm soát bệnh, hãy liên hệ với Bác sĩ. Nguyễn Đức Tỉnh, hiện đang công tác tại Khoa Chẩn đoán Hình ảnh – Bệnh viện Quân đội 175,  một chuyển gia trong lĩnh vực chẩn đoán và  điều trị u tuyến giáp, u vú, ung thư tuyến giáp bằng phương pháp RFA.

    Hiện nay, phòng khám của bác sĩ Nguyễn Đức Tỉnh hợp tác và hoạt động tại hai địa chỉ chính:

    • TP. HCM: Bệnh viện Quân đội 175 – 786 Nguyễn Kiệm, Phường 3, Gò Vấp.
    • Hà Nội: Bệnh viện Hồng Phát – 219 Lê Duẩn, Nguyễn Du, Hai Bà Trưng.

    Thông tin liên hệ:

    • Email: [email protected]
    • Hotline/Zalo: 0976958582
    • Website: https://nguyenductinh.com/